Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài "Bước đầu phân vùng du lịch sinh thái tự nhiên Việt Nam" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thị Kim Chi (Khóa 1996 – 2000, Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh) dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Trần Văn Thành.
Bối cảnh thực tiễn của nghiên cứu xuất phát từ thực tế Việt Nam là quốc gia có mức độ đa dạng sinh thái cao và tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên phong phú, nhưng công tác khai thác tại thời điểm nghiên cứu vẫn chưa đạt tính hợp lý và bền vững. Theo Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (Điều 1 và Điều 2), du lịch được xác định là ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; Nhà nước thống nhất quản lý nhằm bảo đảm phát triển du lịch theo hướng văn hóa và du lịch sinh thái (DLST), gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Trên bình diện quốc tế và khu vực Đông Nam Á, DLST đang trở thành xu thế phát triển bền vững nhằm kết hợp bảo tồn thiên nhiên, nâng cao chất lượng cuộc sống cho cư dân bản địa, giáo dục môi trường và gia tăng nguồn thu ngoại tệ. Do đó, việc xác lập cơ sở khoa học và định hướng quy hoạch DLST tại Việt Nam là yêu cầu thực tiễn cấp thiết.
Mục tiêu cơ bản của đề tài được xác định gồm 4 nội dung:
- Xác định tài nguyên vốn có của cả nước với mức độ thuận lợi trong việc khai thác phục vụ mục đích du lịch.
- Xác lập cơ sở khoa học cho việc quy hoạch DLST tự nhiên trên toàn lãnh thổ nhằm phát triển du lịch bền vững, bảo tồn tài nguyên và môi trường, góp phần phát triển kinh tế – xã hội.
- Phân vùng du lịch sinh thái tự nhiên.
- Định hướng thiết kế các tuyến điểm DLST của từng miền.
Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu bao gồm: xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên (TNDLSTTN); đánh giá các điểm TNDLSTTN; phân tích hiện trạng khai thác tài nguyên và cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật (CSHT & VCKT); xây dựng hệ thống các đơn vị phân vị và xác định ranh giới vùng DLST; định hướng quy hoạch không gian DLST.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống lãnh thổ du lịch sinh thái, bao gồm các điểm, tuyến, cụm, khu và vùng DLST có tính hấp dẫn, an toàn sinh thái và phát triển bền vững. Phạm vi không gian bao quát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam với diện tích tự nhiên 331.688 km². Phạm vi thời gian và định hướng quy hoạch tập trung cho giai đoạn 2000 – 2010. Về giới hạn nghiên cứu, đề tài dừng lại ở mức độ xác định TNDLSTTN của toàn lãnh thổ dựa trên nguồn tư liệu chuyên ngành đã công bố kết hợp khảo sát thực địa một số địa bàn trọng điểm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận địa lý học hiện đại và các khái niệm chuyên ngành:
- Khung pháp lý và khái niệm du lịch: Sử dụng các định nghĩa từ Pháp lệnh Du lịch Việt Nam về du lịch, khách du lịch, tài nguyên du lịch, điểm du lịch, khu du lịch, tuyến du lịch, kinh doanh du lịch, lữ hành, cơ sở lưu trú du lịch và xúc tiến du lịch.
- Khái niệm môi trường: Tiếp cận định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (1980) và lý thuyết hệ thống môi trường gồm 3 phân hệ tương tác: môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo và môi trường xã hội.
- Khái niệm du lịch sinh thái: Trích dẫn định nghĩa của David Western, Hiệp hội Du lịch Sinh thái (The Ecotourism Society - 1992), Tuần báo Du lịch (1999) và phân loại của Geoffrey Lipman (WTTC) về DLST theo nghĩa rộng ("E" - định hướng bảo tồn tự nhiên) và nghĩa hẹp ("e" - nâng cao tính nhạy cảm môi trường của du khách).
- Lý thuyết tổ chức lãnh thổ du lịch: Vận dụng mô hình Hệ thống lãnh thổ du lịch của M. Bưchơvarốp (1975), Hệ thống du lịch của Neil Leiper (1990), khái niệm Thể tổng hợp lãnh thổ du lịch và Vùng du lịch của L.I. Pirojnik được Vũ Tuấn Cảnh và Lê Thông (1991) phát triển tại Việt Nam.
- Khung phát triển bền vững và quản lý du lịch: 14 yếu tố phát triển bền vững của Peter E. Murphy (1994), 7 nguyên lý phát triển du lịch bền vững của Ngành Môi trường Anh Quốc (1991), mô hình phân loại khách du lịch của Martin Mowforth (1993) và Mackay (1994), cùng 6 chương trình hướng dẫn du lịch sinh thái của Hội DLST Quốc tế (ES).
Tác giả quán triệt 3 quan điểm nghiên cứu chủ đạo: quan điểm địa sinh thái (tiếp cận hệ thống tương tác giữa các hợp phần tự nhiên), quan điểm sinh thái phát triển (kết hợp cân bằng vật chất - năng lượng - thông tin giữa sinh thái, kinh tế và xã hội), và quan điểm kinh tế sinh thái (tối ưu hóa hiệu quả kinh tế đi đôi với dự báo và ngăn ngừa suy thoái môi trường).
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai gồm:
- Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống (phân tích 5 phân hệ: khách du lịch, tài nguyên - sản phẩm, công trình kỹ thuật, cán bộ phục vụ, cơ quan điều khiển).
- Phương pháp phân tích toán học (thống kê chọn lọc, ma trận chấm điểm có trọng số, phân vùng tương quan).
- Phương pháp bản đồ (phân tích liên hợp các xê-ri bản đồ địa lý và phân vùng).
- Phương pháp thực địa (khảo sát tuyến điểm thực tế để thu thập và kiểm chứng dữ liệu).
- Phương pháp xác định ranh giới vùng (kết hợp phân hóa tự nhiên với nguyên tắc ranh giới hành chính).
Nguồn dữ liệu của đề tài kế thừa từ các công trình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch ("Đánh giá tài nguyên du lịch Việt Nam", "Quy hoạch phát triển du lịch vùng ĐBSCL 1996-2010"), các công trình của Đặng Duy Lợi (1992), Nguyễn Minh Tuệ (1993), Trần Văn Thắng (1995), Lê Huy Bá, Trần Văn Thành (1998, 1999), cùng các tài liệu quốc tế của Kreg Lindberg, Donald E. Hawkins (1999), Chuck Y. Gee (1984), Erlet Cater (1993) và Blaza (1994).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan về DLST
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và địa lý du lịch sinh thái. Tác giả xác định địa lý DLST là một phân ngành mới của địa lý du lịch, hình thành từ những năm 70 của thế kỷ XX nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Đối tượng nghiên cứu của phân ngành là hệ thống lãnh thổ DLST gồm 5 phân hệ cấu thành:
- Phân hệ khách DLST: Trung tâm quyết định các yêu cầu của hệ thống, mang đặc thù về nhu cầu thưởng ngoạn thiên nhiên và tính nhạy cảm môi trường.
- Phân hệ tài nguyên và sản phẩm DLST: Cung cấp điều kiện thỏa mãn nhu cầu tham quan, nghiên cứu, có sức chứa và tính bền vững sinh thái.
- Phân hệ công trình kỹ thuật sinh thái: Cơ sở lưu trú, nhà hàng, phương tiện vận chuyển thích ứng với môi trường tự nhiên.
- Phân hệ cán bộ phục vụ: Đội ngũ hướng dẫn viên, nhân viên có kiến thức chuyên môn về sinh thái và giáo dục môi trường.
- Phân hệ cơ quan điều khiển: Các tổ chức quản lý, doanh nghiệp lữ hành có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên và trích tái đầu tư cho bảo tồn.
Chương này cũng phân tích 4 nhóm tác động tiêu cực nảy sinh do sự thiếu quy hoạch trong khai thác du lịch: tác động môi trường (ô nhiễm, phá hủy cảnh quan, biến đổi sinh thái), tác động nhân văn (xói mòn bản sắc văn hóa, xung đột lợi ích với dân địa phương), tác động tổ chức (tiếp cận rời rạc, thiếu liên kết giữa các đơn vị) và các tác động hạ tầng dịch vụ (thiếu bảng chỉ dẫn, dịch vụ xuống cấp). Lược sử nghiên cứu ghi nhận các bước tiến của các tổ chức quốc tế (WTO, PATA, The Ecotourism Society) và các công trình bước đầu tại Việt Nam giai đoạn 1990 – 1999.
Chương 2. Cơ sở khoa học của quy hoạch DLST
Chương 2 luận giải các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường của hoạt động DLST. Tác giả phân tích tính hai mặt của hoạt động du lịch đối với môi trường: vừa có tác động tích cực thúc đẩy bảo tồn (tu bổ di tích, chuyển đổi công năng công trình cũ như tại Savannah - Georgia, mở rộng công viên quốc gia tại châu Phi, thiết lập hàng rào kiểm soát bảo vệ tại Stonehenge hay Parthenon), vừa tiềm ẩn xung đột gây suy thoái tài nguyên nếu vượt quá ngưỡng chịu tải sinh thái (theo phân tích của Chuck Y. Gee, 1984). Khía cạnh văn hóa được dẫn chứng qua Tuyên bố Hội nghị Bộ trưởng Du lịch Thế giới tại Osaka (1994) về trách nhiệm bảo vệ di sản văn hóa và đời sống bản địa.
Về lợi ích kinh tế, chương dẫn số liệu của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO): doanh thu từ DLST đạt từ 2 đến 10 tỷ USD trong tổng số 55 tỷ USD thị trường du lịch tại các quốc gia đang phát triển, với mức tăng trưởng dự báo từ 13% đến 15%/năm trong thập kỷ tiếp theo. Chương trình cũng trình bày các mô hình học thuật quốc tế:
- 14 yếu tố phát triển bền vững trong du lịch của Murphy (1994).
- 7 nguyên lý phát triển du lịch bền vững của Ngành Môi trường Anh Quốc (1991).
- Phân loại khách DLST theo Mowforth (1993) gồm: khách cảm giác mạnh, khách an nhàn và khách đặc biệt; theo Mackey (1994) gồm: hạng E lớn, hạng e nhỏ và thám hiểm nhẹ nhàng.
- 6 chương trình hướng dẫn bắt buộc cho các hãng điều hành tour thiên nhiên của Hội DLST Quốc tế (ES): chương trình trước khi khởi hành, chương trình hướng dẫn, chương trình giám sát, chương trình quản lý, chương trình làm việc - lao động địa phương và chương trình kiểm tra cơ sở lưu trú địa phương.
Chương 3. Phương pháp đánh giá tài nguyên DLSTTN
Chương 3 thiết lập quy trình định lượng để đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên tại Việt Nam. Trên cơ sở kế thừa nghiên cứu của Đặng Duy Lợi (1992), Nguyễn Minh Tuệ (1993) và Trần Văn Thắng (1995), tác giả xây dựng khung đánh giá gồm 8 chỉ tiêu, chia thành 2 nhóm với 4 bậc điểm (4: Rất tốt/Rất thuận lợi, 3: Khá, 2: Trung bình, 1: Kém) và áp dụng hệ số trọng số tương ứng:
| Nhóm chỉ tiêu |
Tên chỉ tiêu đánh giá |
Hệ số trọng số |
Tiêu chí bậc cao nhất (Điểm 4) |
| Nhóm thu hút khách |
Tính hấp dẫn |
3 |
Có trên 5 cảnh đẹp, 3 di tích tự nhiên đặc sắc, đáp ứng trên 5 loại hình du lịch |
|
Giá trị đa dạng sinh học |
3 |
Có trên 3 – 5 giá trị về sử dụng kinh tế, đạo đức và thẩm mỹ |
|
Cơ sở hạ tầng & vật chất kỹ thuật |
2 |
CSHT & VCKT đồng bộ, đạt chuẩn quốc tế (khách sạn ≥ 3 sao, liên lạc quốc tế) |
|
Tính an toàn |
1 |
An toàn tuyệt đối về an ninh, trật tự, dịch bệnh và thiên tai |
| Nhóm quản lý, khai thác |
Tính bền vững |
3 |
Không bị tàn phá, tự phục hồi nhanh, tài nguyên tồn tại vững chắc > 100 năm |
|
Tính liên kết |
3 |
Có từ 5 điểm tài nguyên du lịch tự nhiên xung quanh có thể kết nối |
|
Tính thời vụ |
2 |
Thời gian khai thác hoạt động du lịch suốt năm (> 300 ngày/năm) |
|
Sức chứa khách du lịch |
1 |
Sức chứa lớn (> 1.000 khách/ngày, > 250 khách/lượt tham quan) |
Kết quả áp dụng thang điểm đánh giá tổng hợp trên toàn quốc đã kiểm kê và phân loại 354 điểm TNDLTN thuộc 15 loại hình:
- Theo cấp độ quản lý và giá trị: Có 108 điểm có ý nghĩa quốc tế và quốc gia (gồm 21 sông suối, 14 đồi, 10 bãi biển, 8 hang karst, 24 khu bảo tồn thiên nhiên, 4 sân chim, 5 vườn quốc gia, 3 đảo, 8 hồ, 3 vịnh, 6 hệ sinh thái rừng ngập mặn/rừng sinh thái, 2 cù lao, 4 thác); 248 điểm có ý nghĩa vùng và địa phương (gồm 51 sông rạch, 7 suối, 4 đảo, 27 bãi biển, 25 hang karst, 7 cồn sông, 4 HST rừng, 5 sân chim, 4 đầm, 3 thác, 10 HST rừng ngập mặn/rừng sinh thái, 5 vườn quốc gia, 5 cù lao, 3 vịnh).
- Theo sức thu hút khách: Loại A (thu hút quốc tế và nội địa) có 104 điểm; Loại B (thu hút nội địa) có 18 điểm; Loại C (thu hút nội tỉnh/huyện) có 34 điểm.
- Theo mức độ thuận lợi trong khai thác và quản lý: Loại A (rất thuận lợi) có 90 điểm; Loại B (thuận lợi trung bình) có 153 điểm; Loại C (hạn chế, cần đầu tư lớn) có 108 điểm.
Chương 4. Phương pháp quy hoạch du lịch sinh thái
Chương 4 phân tích các nguyên lý tổ chức không gian lãnh thổ DLST. Tác giả làm rõ 3 cấp độ tổ chức lãnh thổ:
- Hệ thống lãnh thổ DLST: Cấu trúc vận hành theo chu trình đưa đón khách giữa nơi xuất phát và nơi đón nhận trong môi trường địa lý tổng hợp.
- Thể tổng hợp lãnh thổ du lịch: Sự liên kết kinh tế - sản xuất giữa các cơ sở du lịch và hệ thống hạ tầng trên cùng một vị trí địa lý. Khóa luận nhận định toàn bộ lãnh thổ Việt Nam là một thể tổng hợp lãnh thổ du lịch đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nhanh (giai đoạn 2000 – 2010).
- Vùng du lịch: Tập hợp các hệ thống lãnh thổ du lịch và không gian kinh tế – xã hội phụ cận, lấy hệ thống tài nguyên và hạ tầng làm hạt nhân.
Quy hoạch DLST được tiếp cận qua 3 hướng: mô hình hóa cấu trúc - chức năng của địa hệ thống xã hội (sociogeosystem), bảo đảm tính khả thi dựa trên sự đồng thuận và hưởng lợi của cộng đồng địa phương, và bắt buộc thực hiện đánh giá tác động môi trường (EIA).
Theo mô hình của Stephen F. Witt và Luiz Moutinho, quy hoạch DLST phải thực hiện 3 mục tiêu chiến lược: (a) Kích thích sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân, (b) Tối đa hóa nguồn thu ngoại tệ, (c) Tạo việc làm và phúc lợi cho cộng đồng. Đi kèm với đó là các chính sách điều tiết: phân tán áp lực du khách khỏi các trung tâm quá tải (Cần Thơ, Mỹ Tho, Cà Mau...), mở rộng phát triển tại các khu vực vùng sâu, hải đảo (Hà Tiên, Phú Quốc, Đồng Tháp Mười, Bán đảo Cà Mau).
Chương 5. Phân vùng DLST Việt Nam
Chương 5 trình bày kết quả phân vùng DLST trên phạm vi cả nước. Tác giả so sánh hệ thống phân vị của GS.TS. Lê Huy Bá (5 miền) và Viện Nghiên cứu Du lịch Việt Nam (3 vùng, 2 á vùng, 11 tiểu vùng, 2 trung tâm), từ đó kế thừa và áp dụng mô hình phân vị của Trần Văn Thành (1999) gồm 5 cấp phân vị: Điểm DLST $\rightarrow$ Tuyến DLST $\rightarrow$ Cụm DLST $\rightarrow$ Vùng DLST $\rightarrow$ Miền DLST.
Toàn bộ lãnh thổ được phân chia thành 3 miền và 10 vùng DLST:
- Miền DLST Đông Bắc - Bắc Bộ: Gồm 3 vùng (Vùng DLST Việt Bắc, Vùng DLST Đông Bắc, Vùng DLST Đồng bằng sông Hồng).
- Miền DLST Tây Bắc - Bắc Trung Bộ: Gồm 3 vùng (Vùng DLST Hoàng Liên Sơn, Vùng DLST Tây Bắc, Vùng DLST Bắc Trung Bộ). Ranh giới phía Nam giới hạn tại dãy Động Ngài - Bạch Mã và đèo Hải Vân ($16^\circ$B).
- Miền DLST Nam Trung Bộ và Nam Bộ: Gồm 4 vùng (Vùng DLST Nam Trung Bộ, Vùng DLST Tây Nguyên, Vùng DLST Đông Nam Bộ, Vùng DLST Đồng bằng sông Cửu Long).
Chương 5 đi sâu phân tích cấu trúc tự nhiên và định hướng quy hoạch của Miền DLST Đông Bắc - Bắc Bộ:
- Đặc điểm tự nhiên: Chịu ảnh hưởng trực tiếp của khối khí cực đới NPc qua các cánh cung núi quy tụ tại Tam Đảo, tạo nên mùa đông lạnh sâu sắc; hệ thống hang động karst phong phú (Bắc Sơn, Ngân Sơn, Hạ Long, Bái Tử Long); mạng lưới 6 hệ thống sông chính (sông Thao, sông Lô, sông Cầu - Thương - Lục Nam, Bằng Giang - Kỳ Cùng, sông duyên hải Quảng Ninh) với mật độ trung bình 1,6 km/km²; khu Ramsar Xuân Thủy có ý nghĩa quốc tế về chim di cư.
- Hiện trạng và định hướng: Miền ghi nhận 40 điểm TNDLTN, có khả năng đưa vào khai thác 65 điểm TNDLTN. Đề xuất quy hoạch 4 tuyến du lịch sinh thái:
- Tuyến 1 (3 ngày, ô tô): Hà Nội – Hạ Long – Cát Bà – Đồ Sơn – Nam Định (tham quan vịnh Hạ Long, VQG Cát Bà, bãi biển Đồ Sơn, khu BTTN đất ngập nước Giao Thủy/Xuân Thủy).
- Tuyến 2 (4 ngày, ô tô): Hà Nội – Ba Bể – Tam Đảo – Ba Vì (VQG Ba Bể, thác Bản Giốc, VQG Ba Vì, khu BTTN Tam Đảo, động Tam Thanh, núi Tô Thị).
- Tuyến 3 (3 ngày, ô tô): Hà Nội – Sa Pa (thác Bạc, thác Cốc San, chinh phục Fansipan).
- Tuyến 4 (2 ngày, ô tô): Hà Nội – Ninh Bình (VQG Cúc Phương, núi Non Nước, Tam Cốc, Hương Tích).
- Các cụm DLST trọng điểm: Cụm Quảng Ninh – Hải Phòng, Cụm Tam Đảo – Ba Vì, Cụm Ba Bể – Bản Giốc – Lạng Sơn, Cụm Thanh Hóa (Sầm Sơn – Hàm Rồng), Cụm Nghệ An – Hà Tĩnh (Cửa Lò – Thiên Cầm).
Kết quả và đóng góp
Kết quả định lượng và phân vùng
Khóa luận đã lượng hóa và phân loại hệ thống tài nguyên du lịch sinh thái trên phạm vi toàn quốc:
- Kiểm kê và xử lý dữ liệu cho 354 điểm tài nguyên du lịch tự nhiên thuộc 15 nhóm loại hình.
- Phân định rõ 108 điểm tài nguyên có giá trị quốc tế/quốc gia và 248 điểm tài nguyên cấp vùng/địa phương.
- Xác lập cơ cấu phân vị lãnh thổ gồm 3 miền và 10 vùng DLST, định hình không gian phát triển cho thể tổng hợp du lịch Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010.
- Xây dựng chi tiết 4 tuyến du lịch sinh thái và 5 cụm du lịch sinh thái chuyên đề cho khu vực phía Bắc.
Đề xuất và giải pháp quy hoạch
- Kiến nghị áp dụng quy trình đánh giá tác động môi trường (EIA) đối với tất cả các dự án phát triển du lịch sinh thái.
- Đề xuất chính sách điều tiết dòng khách, giảm áp lực tập trung tại các điểm du lịch truyền thống và ưu tiên đầu tư hạ tầng cho các vùng sinh thái nhạy cảm (Đồng Tháp Mười, Bán đảo Cà Mau, Phú Quốc, Hà Tiên).
- Đưa ra định hướng liên kết cộng đồng bản địa vào chuỗi cung ứng dịch vụ DLST nhằm chia sẻ lợi ích kinh tế và nâng cao hiệu quả bảo tồn.
Đóng góp về mặt học thuật
- Khóa luận là một trong những công trình nghiên cứu sớm ở cấp độ cử nhân địa lý tiếp cận có hệ thống lý luận về phân vùng du lịch sinh thái tự nhiên tại Việt Nam.
- Thiết lập bảng tiêu chí định lượng gồm 8 chỉ tiêu có trọng số (hệ số 1, 2, 3) kết hợp giữa sức hấp dẫn du khách và năng lực quản lý khai thác, tạo công cụ đánh giá tài nguyên mang tính khoa học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được tác giả thẳng thắn chỉ ra các hạn chế xuất phát từ điều kiện thực tế:
- Lĩnh vực nghiên cứu DLST tại thời điểm năm 2000 tại Việt Nam còn rất mới, dẫn đến sự thiếu hụt về nguồn tài liệu đối sánh và chuẩn hóa phương pháp luận.
- Do hạn chế về kinh phí và thời gian, việc khảo sát thực địa chưa thể thực hiện đồng bộ trên toàn bộ 354 điểm tài nguyên mà chủ yếu thực hiện tại một số khu vực đại diện; phần lớn dữ liệu dựa trên việc tổng hợp các kết quả nghiên cứu thứ cấp.
- Mức độ chi tiết hóa về quy hoạch tuyến điểm trong văn bản mới chỉ tập trung sâu cho Miền DLST Đông Bắc - Bắc Bộ, hai miền còn lại chủ yếu dừng ở mức phân vùng khái quát.
Hướng nghiên cứu tiếp nối được gợi mở là mở rộng điều tra thực địa toàn diện cho các điểm tài nguyên tại miền Trung và miền Nam, tính toán cụ thể sức chịu tải du lịch (carrying capacity) cho từng hệ sinh thái đặc thù và xây dựng phương án đánh giá EIA chi tiết cho các điểm du lịch sinh thái trọng điểm.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và giảng viên thuộc các ngành: Địa lý học (Địa lý du lịch, Địa lý tự nhiên), Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn.
- Cán bộ quy hoạch, chuyên viên tại các Viện nghiên cứu du lịch, Sở Du lịch, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tại các địa phương trong việc xây dựng đề án quy hoạch phân vùng tài nguyên.
- Phần có giá trị tham khảo chuyên môn cao nhất là: khung 8 chỉ tiêu đánh giá tài nguyên có hệ số trọng số tại [Chương 3], mô hình 5 phân hệ lãnh thổ du lịch sinh thái tại [Chương 1], và danh mục dữ liệu phân loại 354 điểm TNDLTN tại hệ thống bảng biểu phụ lục.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng khung chỉ tiêu nào để đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên?
Tác giả xây dựng thang đánh giá gồm 8 chỉ tiêu chia thành 2 nhóm với các hệ số trọng số:
- Nhóm thu hút khách: Tính hấp dẫn (hệ số 3), Giá trị đa dạng sinh học (hệ số 3), CSHT & VCKT (hệ số 2), Tính an toàn (hệ số 1).
- Nhóm quản lý khai thác: Tính bền vững (hệ số 3), Tính liên kết (hệ số 3), Tính thời vụ (hệ số 2), Sức chứa khách du lịch (hệ số 1).
Mỗi chỉ tiêu được chấm theo 4 bậc điểm (4: Rất tốt/Rất thuận lợi, 3: Khá, 2: Trung bình, 1: Kém).
2. Tổng số điểm tài nguyên du lịch tự nhiên được khóa luận kiểm kê và đánh giá là bao nhiêu?
Khóa luận đã kiểm kê và đánh giá sơ bộ 354 điểm tài nguyên du lịch tự nhiên thuộc 15 loại hình trên toàn quốc, phân thành 108 điểm có ý nghĩa quốc tế và quốc gia cùng 248 điểm có ý nghĩa vùng và địa phương.
3. Lãnh thổ Việt Nam được phân chia thành những miền và vùng du lịch sinh thái nào?
Khóa luận phân chia cả nước thành 3 miền và 10 vùng DLST:
- Miền Đông Bắc - Bắc Bộ: 3 vùng (Việt Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng sông Hồng).
- Miền Tây Bắc - Bắc Trung Bộ: 3 vùng (Hoàng Liên Sơn, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ).
- Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ: 4 vùng (Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long).
4. Khóa luận đề xuất những tuyến du lịch sinh thái cụ thể nào cho Miền Đông Bắc - Bắc Bộ?
Có 4 tuyến du lịch sinh thái bằng ô tô được thiết kế chi tiết:
- Tuyến 1 (3 ngày): Hà Nội – Hạ Long – Cát Bà – Đồ Sơn – Nam Định.
- Tuyến 2 (4 ngày): Hà Nội – Ba Bể – Tam Đảo – Ba Vì.
- Tuyến 3 (3 ngày): Hà Nội – Sa Pa.
- Tuyến 4 (2 ngày): Hà Nội – Ninh Bình.
5. Hệ thống lãnh thổ du lịch sinh thái trong khóa luận gồm những phân hệ nào?
Hệ thống gồm 5 phân hệ tương tác: Phân hệ khách DLST, Phân hệ tài nguyên DLST và sản phẩm DLST, Phân hệ công trình kỹ thuật sinh thái, Phân hệ cán bộ phục vụ, và Phân hệ cơ quan điều khiển.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Kim Chi đã giải quyết một cách khoa học và có hệ thống vấn đề phân vùng du lịch sinh thái tự nhiên tại Việt Nam trong giai đoạn 1996 – 2000. Bằng việc tích hợp các quan điểm địa sinh thái, sinh thái phát triển và kinh tế sinh thái, công trình đã xây dựng thành công bộ chỉ tiêu định lượng 8 tiêu chí có trọng số và đánh giá toàn diện 354 điểm tài nguyên trên cả nước. Kết quả phân chia 3 miền, 10 vùng cùng các tuyến điểm cụ thể đã cung cấp cơ sở khoa học xác đáng cho công tác quy hoạch lãnh thổ và quản lý du lịch bền vững. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn chuyên sâu cho công tác đào tạo, nghiên cứu địa lý du lịch tại Việt Nam.