Mở đầu CHƯƠNG 2. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về phản ứng của thị trường chứng khoán các nước trước những thay đổi lãi suất CHƯƠNG 3. Phương pháp nghiên cứu CHƯƠNG 4. Phản ứng của thị trường chứng khoán các nước Châu Á Thái Bình Dương trước các thông báo điều chỉnh lãi suất của FED CHƯƠNG 5.
Thảo luận kết quả nghiên cứu và kiến nghị 10 CHƯƠNG 2. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHAN UNG CUA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CÁC NƯỚC TRƯỚC NHỮNG THAY ĐỔI LÃI SUẤT 2. Cơ sở lý thuyết về phản ứng của thị trường chứng khoán trước những thay đổi lãi suất 2. Khái quát chung về lãi suất và chính sách lãi suất của các quốc gia 2.
Khái quát chung về lãi suất Lãi suất hay lãi suất chiết khấu là một công cụ của CSTT để tác động thay đổi tới cung tiền hướng đến mục tiêu ổn định lạm phát, tăng trưởng kinh tế, toàn dụng lao động và ổn định tỷ giá (Araujo, 2014). Bên cạnh đó, lãi suất còn là một trong ba công cụ quan trọng để điều hành nền kinh tế của NHTW trong đó bao gồm: Lãi suất chiết khấu, dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở (Mishskin & Eakins, 2005). Chính sách chiết khấu là một biện pháp mà NHTW thực hiện các khoản cho vay đối với các ngân hàng thương mại bằng cách chiết khấu hoặc tái chiết khấu những giấy tờ có giá với mục tiêu đưa tiền tệ vào lưu thông và thực hiện vai trò của người cho vay. Dựa theo nghiên cứu của Madura (2015) chính sách chiết khấu được thực hiện dựa trên mức lãi suất chiết khấu mà NHTW đưa ra có tác động trực tiếp đến lượng vốn vay trên thị trường theo hai hướng: Tác động đến lãi suất cho vay và tác động đến quy mô của vốn vay.
Cụ thể, NHTW có thể mở rộng cung tiền bằng cách sử dụng chính sách chiết khấu thông qua việc tăng hạn mức chiết khấu đồng thời giảm lãi suất chiết khấu, lam tăng cung quỹ cho vay khiến lãi suất trên thị trường liên ngân hàng giảm, lãi suất trên thị trường tín dụng giảm theo, kích thích đầu tư làm tăng tổng cầu trong nền kinh tế. Trong trường hợp ngược lại, NHTW sẽ thực thi CSTT thắt chặt thông qua việc giảm hạn mức chiết khấu và tăng lãi suất chiết khấu. Phân loại Dựa theo biến động của từng thời kỳ của nền kinh tế- xã hội, việc thay đổi về lãi suất phụ thuộc phần lớn vào định hướng thay đổi CSTT của NHTW tại mỗi quốc gia. Đối với CSTT mở rộng: NHTW thông thường sẽ đưa ra những chính sách trong việc hạ thấp mức lãi suất chiết khấu, cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế khi tình hình kinh tế tại quốc gia đang trong dấu hiệu suy thoái, diễn ra sự suy giảm về tổng cầu, chỉ số tiêu dùng giảm mạnh, dòng vốn đầu tư từ nước ngoài bị thiếu hụt, và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.
Việc hạ lãi suất góp phần làm mở rộng cung tiền làm gia tăng tổng cầu, khiến cho quy mô của nền kinh tế được mở rộng, tỷ lệ thất nghiệp giảm và làm tăng mức thu nhập bình quân tại mỗi quốc gia. 11 Đối với CSTT thắt chặt: NHTW thông thường sẽ có biện pháp gia tăng mức lãi suất chiết khấu, thắt chặt việc cung ứng tiền tệ ra ngoài thị trường khiến lãi suất thị trường gia tăng, góp phần làm thu hẹp tổng cầu, làm mức giá chung giảm xuống đảm bảo mục tiêu về chỉ số lạm phát, hạn chế nhu cầu cho vay của các cá nhân. Cơ chế truyền dẫn của lãi suất Việc thay đổi CSTT thông qua kênh điều chỉnh lãi suất là một trong những chủ đề khá phổ biến trong nhiều thuyết kinh tế của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế trên khắp thế giới. Tiêu điểm phải kể đến cơ chế truyền dẫn tiền tệ quan trọng trong mô hình IS-LM của Keynes, là cơ sở nền tang cho các học thuyết về kinh tế vĩ mô.
Nới lỏng CSTT làm gia tăng cung tiền Ms (T) khiến cho lãi suất thực tế giảm xuống r(1). Dẫn đến chi phí đầu tư giảm làm nhu cầu đầu tư I(T). Kết quả lam tăng tổng cầu và sản lượng (YT). Thu hẹp CSTT làm giảm cung tiền Ms (J) khiến cho lãi suất thực tế tăng lên r(T).
Lam tăng chi phí đầu tư làm cho nhu cầu đầu tư giảm I(1). Kết quả phản ánh giảm tổng cầu va sản lượng (YJ). Dựa theo lý thuyết của Keynes, nhận thấy tiêu điểm của cơ chế truyền dẫn lãi suất bắt nguồn từ thành phần lãi suất thực (r). Với mức lãi suất cao làm giảm giá trị hiện tại của dòng tiền xảy ra trong tương lai, ảnh hưởng tới sức hút của các cơ hội đầu tư trên thị trường.
Đối với các doanh nghiệp, lãi suất thực là lãi suất then chốt là yếu tổ quyết định cho chỉ phí đầu tư kinh doanh. Lãi suất thực là lãi suất mang yếu tố dài hạn, không có tác động quá lớn đến chỉ tiêu. Giá cả thiên về tính chất cố định, do đó khi CSTT được nới lỏng sé làm giảm lãi suất danh nghĩa trong ngắn hạn; điều này sẽ vẫn đúng khi có các kỳ vọng về giá cả một cách hợp lý Lý thuyết kỳ vọng về cấu trúc kỳ hạn phát biểu rằng lãi suất dài hạn là trung bình của các lãi suất ngắn hạn trong tương lai, tức là việc giảm lãi suất thực ngắn hạn sẽ làm giảm lãi suất thực dài hạn. Mức lãi suất thực thấp hơn này sẽ làm tăng đầu tư tài sản cố định của doanh nghiệp, đầu tư nhà ở, chi tiêu hàng lâu bền và đầu tư hang tồn kho và kết quả là làm gia tăng tổng sản lượng.
Lãi suất thực tế là kênh truyền dẫn quan trọng để CSTT tác động lên nền kinh tế ngay cả khi lãi suất danh nghĩa xuống mức bằng0 trong thời kỳ giảm phát. Khi đó, mở rộng CSTT làm tăng cung tiền Ms (1), vẫn có thể làm tăng mức giá dự kiến (P,†), và lạm phát dự kiến tăng lên (1, T), làm giảm lãi suất thực tế (r = [i - rạ] 1), ngay cả khi lãi suất danh nghĩa bị cố định đang ở mức 0 làm kích thích chi tiêu thông qua kênh lãi suất 12 Ms(1T)> P (Nr, (T)—>r(1)—I(†)—>Y(1). Lãi suất và những tác động đến TTCK 2. Góc độ lý thuyết chung Tỷ giá, chứng khoán va lãi suất là 2 yếu tố rất quan trọng đối với sức tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.
Tác động của lãi suất đối với thị trường chứng khoán mang lại một ý nghĩa quan trọng đối với chính sách giám sát, thực tiễn quản lý rủi ro, định giá chứng khoán và mối tương quan về chính sách của chính phủ đối với thị trường tài chính. Sự trưởng thành về mức độ hiệu quả của TTCK được toàn cầu, coi là sức khỏe va triển vọng kinh tế của một quốc gia, là cơ sở để các nhà đầu tư đặt niềm tin và kỳ vọng trong tương lai (Alam và cộng sự, 2009). Lãi suất là một trong những biến số kinh tế vĩ mô quan trọng, có sự liên quan trực tiếp tới sự tăng trưởng của nền kinh tế. Lãi suất là mức chi phí vốn, mức giá phải trả cho việc sử dụng tiền trong một khoảng thời gian.
Đối với các nhà đầu tư giỏi có độ uy tín trên thị trường, họ luôn tìm cách đầu tư vào một thị trường hiệu quả. Nhận thấy rằng trong một thị trường không hiệu quả, rất ít người có thể tạo ra được lợi nhuận vượt trội gây ra sự mất niềm tin nói chung về thị trường. Vì khi lãi suất mà ngân hang trả cho người gửi tăng lên, nhà đầu tư sẽ chuyển vốn của họ từ thị trường chứng khoán sang ngân hàng để đảm bảo mức độ mức độ sinh lời, hạn chế được mức độ rủi ro của cổ phiếu điều này sẽ dẫn đến lượng cầu của cổ phiếu giảm và giá cổ phiếu cũng sẽ giảm theo, tương tự với trường hợp ngược lại theo (Poshakwale, 2006; Khababa, 2008; Uddin, 2009). Ở một trường hợp khác, khi lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền tăng lên, lãi suất cho vay cũng tang dẫn đến việc đầu tư vào nền kinh tế cũng sé bị giảm di, là nguyên nhân khiến giá cổ phiếu giảm, tương tự với trường hợp ngược lại.
Do đó, dự trên góc độ cơ sở lý thuyết có tồn tại mối quan hệ nghịch đảo giữa giá cổ phiếu và lãi suất. Góc độ các mô hình lý thuyết Sự nhạy cảm của tỷ suất sinh lợi chứng khoán với tỷ giá và lãi suất được giải thích bằng một vài mô hình và giả thiết khác nhau như mô hình định giá tài sản vôn liên thời gian ICAPM (Merton, 1974) hay lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá - Mô hình APT (Stephen, 1976). ° Mô hình định giá tài sản vốn liên thời gian (ICAPM) Vào năm 1973, Merton cho rằng rủi ro lãi suất trong mô hình (ICAMP) là một yếu tố thị trường, mô hình này phản ánh sự thay đối của lãi suất dẫn đến sự thay đổi của một cơ hội đầu tư. Tỷ suất sinh lời dự kiến được mô tả như sau: 13 đi = Tự + im(Œm — rf) + Bin(@n — T7) Trong đó: ry: lãi suất phi rủi ro Bim: độ nhạy của chứng khoán với sự thay đổi của thị trường Qm: Tỷ suất sinh lời của danh mục thị trường Bin: độ nhạy của chứng khoán với sự thay đổi của danh mục dự phòng rủi ro.
a, : Tỷ suất sinh lợi của danh mục dự phòng rủi ro. ° Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT) Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá cung cấp bằng chứng về việc rủi ro tỷ giá và lãi suất có ảnh hưởng lên sự cân bằng của cổ phiếu (Sweeney và Warga,1987). Trong trạng thái cân bằng, lãi suất có gây ảnh hưởng đáng kể đến giá trị cổ phiếu phổ thông của các định chế tài chính và các ngân hàng (Yourougou,1990). Mô hình được xây dựng dựa theo các giả định sau: Mô hình một nhân tố mô tả cho tỷ suất sinh lời; kinh doanh chênh lệch về giá sẽ không xảy ra; không có hiện tượng bất hoàn hảo trong hệ thống tài chính.
Tổng quan nghiên cứu về phản ứng của thị trường chứng khoán trước những thay đổi lãi suất Hướng nghiên cứu mà tác giả đặt ra là nghiên cứu phản ứng của giá cổ phiếu trên thị trường trước những thông báo thay đổi lãi suất điều hành hoặc cung tiền. Dựa theo hướng tiếp cận này, sau đây tác giả sẽ tóm lược các bài nghiên cứu trước đây có chủ đề liên quan tới những thay đổi về lãi suất ảnh hưởng tới TTCK.