chương I thì Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Tại Điều 34, chương V quy định: Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. Sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách dựa trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch.
Như vậy, sản phẩm du lịch bao gồm hai bộ phận là dịch vụ du lịch (dịch vụ lữ hành, vận chuyển lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, mua sắm) và tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn). Điểm chung nhất mà sản phẩm du lịch mang lại cho du khách chính là sự hài lòng. Nhưng đó không phải là sự hài lòng như khi ta mua sắm một hàng hóa vật chất, mà ở đây sự hài lòng do được trải qua một khoảng thời gian thú vị, tồn tại trong ký ức của du khách khi kết thúc chuyến du lịch. Vai trò của du lịch đối với kinh tế - xã hội và môi trường Theo Tuệ.L, (2012), “Địa lý dịch vụ”, Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm * Đối với kinh tế: Góp phần tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân (sản xuất đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vật chất - kỹ thuật), làm tăng thêm tổng sản phẩm quốc nội.
Góp phần tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập giữa các vùng. Nói cách khác, du lịch tác động tích cực vào việc làm cân đối cơ cấu của thu nhập và chi tiêu của nhân dân theo các vùng (các vùng có tiềm năng du lịch thường là những vùng có trình độ sản xuất kém dẫn đến thu nhập của người dân rất thấp). Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Cơ cấu nền kinh tế thế giới nói chung và từng quốc gia nói riêng đang có sự chuyển dịch ngày càng trở nên hợp lý hơn.
Đó là sự tăng dần tỷ trọng ở khu vực dịch vụ trong cơ cấu nền kinh tế, trong đó có du lịch. Có thể khẳng định rằng du lịch là một lĩnh vực kinh doanh đầy hấp dẫn so với nhiều ngành kinh tế khác. Du lịch đem lại tỷ suất lợi nhuận cao 7 vì vốn đầu tư ít (so với ngành công nghiệp nặng, giao thông, vận tải, xây dựng), thời gian thu hồi vốn nhanh kỹ thuật không phức tạp. * Đối với xã hội Du lịch góp phần giải quyết việc làm cho người lao động.
Đây là ngành tạo ra rất nhiều việc làm. Số lao động trong ngành du lịch và các lĩnh vực liên quan chiếm 10,7% tổng số lao động toàn thế giới. Cứ 2,5 giây du lịch tạo thêm một việc làm mới và hiện nay cứ 8 lao động thì có 1 người là trong ngành du lịch. Du lịch góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế của các vùng có hoạt động du lịch.
Thông thường, tài nguyên du lịch tự nhiên thường hay tập trung ở các vùng xa xôi, vùng ven biển. Việc khai thác nguồn tài nguyên này đòi hỏi phải đầu tư về mọi mặt: giao thông, bưu điện, kinh tế, văn hóa, xã hội. Do vậy mà việc phát triển du lịch đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội ở những vùng đó, giảm thiểu sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng trong cả nước, đồng thời góp phần làm giảm sự tập trung dân cư quá mức ở những đô thị lớn. Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho nước đón khách mà không phải trả tiền.
Du khách được làm quen tại chỗ với những mặt hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Một số sản phẩm làm cho du khách hài lòng, từ đó họ sẽ tuyên truyền cho bạn bè, người thân. Bên cạnh đó, du lịch còn là phương tiện tuyên truyền quảng cáo hữu ích về các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giới thiệu về con người, phong tục tập quán của các quốc gia. Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn nâng cao truyền thống dân tộc.
Thông qua các chuyến đi tham quan, nghỉ mát, hành hương, khách du lịch có điều kiện làm quen với cảnh đẹp, với lịch sử và văn hóa dân tộc, qua đó thêm yêu đất nước mình. Ngoài ra, sự phát triển du lịch còn góp phần khai thác, bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc, thúc đẩy sự phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống, góp phần bảo vệ và phát triển môi trường thiên nhiên, xã hội. * Đối với môi trường, sinh thái: 8 Du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ và khôi phục môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và các hoạt động của con người. Mặt khác, việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức độ tập trung khách vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu hóa quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích du lịch.
Đến lượt mình, quá trình này kích thích việc tìm kiếm các hình thức bảo vệ tự nhiên và đảm bảo điều kiện sử dụng chúng một cách hợp lý. Nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch của đông đảo quần chúng đòi hỏi phải hình thành các kiểu cảnh quan được bảo vệ giống như các công viên quốc gia. Từ đó hàng loạt công viên thiên nhiên quốc gia (vườn quốc gia) đã được thành lập vừa để bảo vệ các cảnh quan thiên nhiên có giá trị, vừa tổ chức các hoạt động giải trí du lịch. Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ.
Một mặt xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động xâm hại của các dòng khách du lịch cũng như việc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật phục vụ du lịch. Như vậy giữa du lịch và bảo vệ môi trường có mối quan hệ qua lại với nhau. Hành vi của khách hàng và hành vi mua hàng du lịch Xu hướng đi du lịch lý giải mức độ nhu cầu nảy sinh trong những quốc gia khác nhau, nhưng chúng không giải thích được việc lựa chọn những sản phẩm đặc biệt của những kiểu khách hàng khác nhau. Trong hoàn cảnh bị quyết định bởi những yếu tố rộng lớn bên ngoài, chúng ta cần phải hiểu biết những quy trình tâm lý bên trong có ảnh hưởng đặc biệt như thế nào đến việc lựa chọn giữa điểm đến du lịch và các sản phẩm du lịch khác nhau.
Động lực du lịch Hành vi chịu ảnh hưởng bởi quá trình tâm lý: Các ảnh hưởng tâm lý hoặc nội bộ tác động đến sự lựa chọn của cá nhân, thường được gọi là động lực (motivation). Phân loại động lực du lịch Các động cơ chính cho sự lựa chọn du lịch và lữ hành:. Động cơ liên quan đến kinh doanh/ công việc 9. Động cơ vật lý/ sinh lý.
Động cơ văn hóa/ tâm lý/ giáo dục cá nhân. Động cơ xã hội/ đạo đức và tương tác cá nhân. Động cơ giải trí/ niềm vui/ trò tiêu khiển. Động cơ tôn giáo Phân loại tổng thể về mục đích đi du lịch được phát triển bởi WTO để sử dụng trong các cuộc điều tra quốc tế của ngành du lịch và lữ hành.
Mô hình hành vi người mua Trong hàng thế kỷ, du lịch được gắn liền với sự mở rộng nhận thức và tự phát triển bản thân thông qua kiến thức và tiếp xúc với những nền văn hóa và hoàn cảnh của con người khác. Kỳ nghỉ, gắn với nghỉ ngơi giải trí, đã luôn có tác dụng kích thích trí con người, và rõ ràng gắn liền với tự phát triển. Những căng thẳng của cuộc sống thường gắn liền với khao khát thoát khỏi hiện thực trong một khoảng thời gian, dưới hình thức tự đam mê cũng như tự phát triển, thường với gia đình hoặc bạn đồng hành, những người có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các mục tiêu cá nhân. Nhiều cá nhân luôn đặt sự hài lòng của người khác lên trên trước, xem đây là mục tiêu của họ.
Đặc điểm kinh tế xã hội và nhân khẩu học: đây là những đặc điểm định lượng một cách dễ dàng như tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, khu vực cư trú, hộ gia đình và tầng lớp xã hội. Các thuộc tính tâm lý: còn được gọi là đặc điểm tâm lý, chỉ ra những loại cá nhân và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các loại sản phẩm đã mua. Những thuộc tính cũng xác định các loại quảng cáo và thông điệp truyền thông khác mà người mua đáp ứng. Thái độ: tất cả mọi người có thái độ có ý thức và vô thức đối với các ý tưởng, cộng đồng và những điều ảnh hưởng đến cuộc sống của họ.
Một thái độ được xác định bởi Allport là “Một trạng thái tinh thần có sự sẵn sàng, tổ chức thông qua kinh nghiệm, thể hiện một tác động có định hướng của đáp ứng cá nhân đến tất cả các đối tượng và tình huống mà nó có liên quan” (Allport, 1935). Thái độ mở rộng niềm 10 tin và kiến thức về sản phẩm cũng như về con người và các sự kiện. Thái độ này cũng bao gồm những cảm xúc, chẳng hạn như thích và không thích, và một tình trạng có hành động hay không vì niềm tin và cảm xúc như vậy. Cần nhấn mạnh rằng không có gì là nhất thiết đúng hay sai hoặc hợp lý về thái độ, và cũng có người không cần phải có kinh nghiệm trực tiếp của các sản phẩm để tạo thành một thái độ.
Đối với một số người hành trình bằng tàu thủy là một hình thức của kỳ nghỉ lý tưởng, trong khi những người khác thích đi bộ hoặc câu cá ở những khu vực nông thôn xa xôi. Sự hài lòng Sự hài lòng là cảm giác vui thích hoặc thất vọng của một người bắt nguồn từ sự so sánh cảm nhận với mong đợi về một sản phẩm (Kotler, 2000, dẫn theo Lin, 2003). Sự hài lòng của khách hàng được định nghĩa như là kết quả của sự cảm nhận và nhận thức, ở đó vài tiêu chuẩn được so sánh với sự thực hiện cảm nhận được. Nếu cảm nhận về sự thực hiện một dịch vụ thấp hơn mong đợi, khách hàng không hài lòng.