Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự thỏa mãn trong công việc. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự thỏa mãn công việc của công chức, viên chức Chi cục Thuế thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Chương 4: Các giải pháp nhằm nâng cao mức độ thỏa mãn công việc của công chức, viên chức Chi cục Thuế thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THỎA MÃN CÔNG VIỆC 1. Một số khái niệm về sự thỏa mãn công việc Có khá nhiều các định nghĩa về sự thỏa mãn công việc. Từ điển bác khoa toàn thƣ thì cho rằng thỏa mãn công việc là sự hài lòng của một cá nhân đối với công việc của anh ta hay cô ta. Trong khi đó, từ điển Oxford Advance Learner’s Dictionary thì định nghĩa “sự thỏa mãn” là việc đáp ứng một nhu cầu hay mong muốn nào đó và vì vậy có thể hiểu sự thỏa mãn công việc là việc công chức, viên chức đƣợc đáp ứng nhu cầu hay mong muốn của họ khi làm việc.
Một trong các định nghĩa đầu tiên về sự thỏa mãn công việc và đƣợc trích dẫn nhiều nhất có thể kể đến là định nghĩa của Robert Hoppock (1935, trích dẫn bởi Scott và cộng sự, 1960). Tác giả cho rằng, việc đo lƣờng thỏa mãn công việc bằng hai cách: (a) đo lƣờng thỏa mãn công việc nói chung và (b) đo lƣờng thỏa mãn công việc ở khía cạnh khác nhau liên quan đến công việc nói chung có thể đƣợc xem là một biến riêng. Theo Vroom (1964), thỏa mãn trong công việc là trạng thái mà ngƣời lao động có định hƣớng hiệu quả rõ ràng đối công việc trong tổ chức. Dormann và Zapf (2001) định nghĩa sự thỏa mãn công việc là thái độ thích thú nhất đối với lãnh đạo và đội ngũ lãnh đạo.
Locke (1976) thì cho rằng thỏa mãn công việc đƣợc hiểu là ngƣời lao động thực sự cảm thấy thích thú đối với công việc của họ. Quinn và Staines (1979) thì cho rằng thỏa mãn trong công việc là phản ứng tích cực đối với công việc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Theo Spector (1997), sự thỏa mãn công việc đơn giản là việc ngƣời ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ nhƣ thế nào. Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biến về thái độ.
Còn Ellickson và Logsdon (2001) thì cho rằng sự thỏa mãn công việc đƣợc định nghĩa chung là mức độ ngƣời công chức, viên chức yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của ngƣời công chức, viên chức (tiêu cực hay tích cực) về công việc hoặc môi trƣờng làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trƣờng làm việc càng đáp ứng đƣợc các nhu cầu, giá trị và tính cách của ngƣời lao động thì độ thỏa mãn công việc càng cao. Theo Kreitner và Kinicki (2007), sự thỏa mãn công việc đƣợc định nghĩa một cách đơn giản, chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình. Đó chính là tỉnh cảm hay cảm xúc của ngƣời lao động đối với công việc của mình.
Tƣơng tự, Weiss (1967) định nghĩa rằng thỏa mãn trong công việc là thái độ về công việc đƣợc thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của ngƣời lao động. Schemerhon (1993) cho rằng sự thỏa mãn công việc có thể hiểu là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc của ngƣời lao động đối với các khía cạnh khác nhau của công việc. Nguyên nhân dẫn đến sự thỏa mãn công việc bao gồm vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần thƣởng gồm cơ hội thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trƣờng làm việc và cơ cấu tổ chức. Nhƣ vậy, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về sự thỏa mãn công việc nhƣng chúng ta có thể rút ra đƣợc rằng một ngƣời đƣợc xem là có sự thỏa mãn công việc thì ngƣời đó sẽ có cảm giác thoải mái, dễ chịu đối với công việc của mình.
Liên quan đến nguyên nhân nào dẫn đến sự thỏa mãn công việc thì mỗi nhà nghiên cứu đề có cách nhìn, cách lý giải riêng qua các công trình nghiên cứu của họ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Tác động của sự thỏa mãn công việc - Sự thỏa mãn đối với công việc của công chức, viên chức có liên quan đến tinh thần của con ngƣời. - Những ngƣời thỏa mãn với công việc thƣờng có xu hƣớng nói tốt về tổ chức của họ cho nhiều ngƣời. - Thỏa mãn công việc là cơ sở cho việc quyết định khả năng cạnh tranh của một đơn vị, tổ chức.
- Thỏa mãn công việc là nhân tố có ảnh hƣởng đến kết quả, hiệu quả hoạt động của đơn vị. - Thỏa mãn công việc là cơ sở nguồn lực cho kế hoạch phát triển bền vững. - Thỏa mãn công việc giúp giảm tỉnh trạng bỏ việc và nghỉ việc. Các lý thuyết về sự thỏa mãn công việc của công chức, viên chức 1.
Lý thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow Tháp nhu cầu của Maslow đƣợc nhà tâm lý học Abraham Maslow đƣa ra vào năm 1943 trong bài viết A Theory of Human Motivation và là một trong những lý thuyết quan trọng nhất của quản trị kinh doanh; đặc biệt là các ứng dụng cụ thể trong quản trị nhân sự và quản trị marketing. Thuyết về tháp nhu cầu của Abraham Maslow (1908-1970) - nhà tâm lý học ngƣời Mỹ - là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc xác định các nhu cầu tự nhiên của con ngƣời. Ông cho rằng ngƣời lao động có năm nhu cầu theo thang bậc từ thấp đến cao, phản ánh mức độ tồn tại và phát triển của con ngƣời trong tổ chức: nhu cầu tồn tại hay nhu cầu sinh lý; nhu cầu an toàn hay nhu cầu đƣợc bảo vệ; nhu cầu xã hội; nhu cầu kính trọng hay nhu cầu đƣợc công nhận; và nhu cầu tự hoàn thiện. Theo đó, những nhu cầu ở mức độ thấp sẽ phải đƣợc thỏa mãn trƣớc khi xuất hiện các nhu cầu ở mức độ cao hơn.
Những nhu cầu này thúc đẩy con ngƣời thực hiện những công việc nhất định để các nhu cầu đƣợc đáp ứng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 Cấp độ thấp nhất và cơ bản nhất là nhu cầu thể chất hay thể xác của con ngƣời gồm nhu cầu ăn, mặc, ở. Cấp độ tiếp theo là nhu cầu an toàn hay nhu cầu đƣợc bảo vệ. Nhu cầu an toàn có an toàn về tính mạng và an toàn về tài sản.
Cao hơn nhu cầu an toàn là nhu cầu quan hệ nhƣ quan hệ giữa ngƣời với ngƣời, quan hệ con ngƣời với tổ chức hay quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên. Con ngƣời luôn có nhu cầu yêu thƣơng gắn bó. Cấp độ nhu cầu này cho thấy con ngƣời có nhu cầu giao tiếp để phát triển. Ở trên cấp độ này là nhu cầu đƣợc nhận biết và tôn trọng.
Đây là mong muốn của con ngƣời nhận đƣợc sự chú ý, quan tâm và tôn trọng từ những ngƣời xung quanh và mong muốn bản thân là một “mắt xích” không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội. Việc họ đƣợc tôn trọng cho thấy bản thân từng cá nhân đều mong muốn trở thành ngƣời hữu dụng theo một điều giản đơn là “xã hội chuộng của chuộng công”. Vì thế, con ngƣời thƣờng có mong muốn có địa vị cao để đƣợc nhiều ngƣời tôn vọng và kính nể. Vƣợt lên trên tất cả các nhu cầu đó là nhu cầu sự thể hiện.
Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt đƣợc mong muốn. Con ngƣời tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ khi công việc đó đƣợc thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng. Thuyết nhu cầu sắp xếp nhu cầu con ngƣời từ thấp lên cao. Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ đƣợc thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn đƣợc đáp ứng.
- Nhu cầu tồn tại hay nhu cầu sinh lý: Nằm ở vị trí thấp nhất của hệ thống thứ bậc các nhu cầu là nhu cầu tồn tại hay nhu cầu sinh lý. Chúng bao gồm những nhu cầu căn bản nhƣ: thức ăn, nƣớc uống, nhà ở, nghỉ ngơi. Cơ thể con ngƣời cần có những nhu cầu này để tồn tại. Tại nơi làm việc, mọi ngƣời phải đƣợc thỏa mãn những nhu cầu vật chất.
Họ cần đƣợc trả lƣơng hợp lý để có thể nuôi sống bản thân và gia đình;cần đƣợc ăn trƣa và có những khoảng thời gian nghỉ ngơi để phục hồi sức khỏe, thoát khỏi sự mệt mỏi do áp lực công việc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 - Nhu cầu an toàn hay nhu cầu được bảo vệ: Khi những nhu cầu ở mức thấp nhất đƣợc thỏa mãn, con ngƣời bắt đầu cảm thấy cần đƣợc thỏa mãn nhu cầu ở cấp độ cao hơn. Họ muốn đƣợc bảo đảm sự an toàn về thân thể, tinh thần. Họ muốn có sự an toàn và ổn định về việc làm để bảo đảm cuộc sống lâu dài, không muốn bị sa thải vì các lý do khác nhau.
Họ muốn có một tinh thần, sức khỏe tốt để an tâm làm việc. - Nhu cầu xã hội: Bản chất tự nhiên của con ngƣời là ai cũng muốn đƣợc sống trong tập thể. Mỗi ngƣời đều mong muốn là thành viên của một nhóm ngƣời, một tổ chức nào đó để duy trì các mối liên hệ với những ngƣời khác. Mỗi chúng ta đều là thành viên của một gia đình, một nhóm bạn, một trƣờng học hay một cơ quan, tổ chức nào đó.
Các nhu cầu này là rất cần thiết một khi các nhu cầu tồn tại và an toàn đã đƣợc đáp ứng. Tại nơi làm việc, mọi ngƣời cùng nhau ăn bữa cơm trƣa, tham gia vào đội bóng đá của đơn vị hay tham gia các chuyến du lịch, công tác. Ngƣời lãnh đạo, quản lý thƣờng khuyến khích những hoạt động tập thể đó và ủng hộ việc thành lập các câu lạc bộ trong tổ chức. Các hoạt động này tạo điều kiện cho các công chức, viên chức trong cùng một tổ chức hay ngoài tổ chức gặp gỡ, giao lƣu với nhau.
Chúng còn giúp phát triển ý thức cộng đồng và tinh thần đồng đội của mỗi cá nhân. - Nhu cầu được tôn trọng: Cấp độ tiếp theo là nhu cầu đƣợc tôn trọng.