Mở đầu Nội dung trong chương này đề cập đến lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đôi tương nghiên cứu, cũng như câu trúc luận văn. Tổng quan Trình bày tổng quan về những tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được thực hiện. Mô tả khái quát về những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố Tay Ninh. Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trinh bày những khái niệm, lý thuyết có liên quan đến van đề nghiên cứu va giới thiệu các phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong khi thực hiện đề tài để đạt được mục tiêu đề ra.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phân tích các số liệu thu đập được đề đưa ra kết quả về thực trạng sản xuất mãng cầu trên địa bàn thành phố Tây Ninh. Sau đó so sánh hiệu quả kinh tế trong sản xuất mãng cầu giữa nhóm hộ tham gia HTX và nhóm hộ không tham gia HTX trên địa bàn. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia hợp tác xã của nông hộ trồng mãng cầu tại thành phố Tây Ninh. Từ đó đề xuất kiến nghị nhằm mở rộng tham gia hợp tác xã của nông hộ trồng mãng cầu tại thành phố Tây Ninh.
Kết luận và kiến nghị Trình bày lại những nội dung và kết quả nghiên cứu đã đạt được một cách ngắn gọn rồi rút ra ý nghĩa từ kết quả đó. Sau đó đề xuất các kiến nghị, các giải pháp có liên quan. CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2. Tống quan về tài liệu nghiên cứu Đề tài này được tiễn hành dựa trên việc tham khảo các tài liệu có liên quan đã được thực hiện như các bài nghiên cứu, các đề tài tốt nghiệp của các khóa trước, các bài giảng môn học có liên quan, các báo cáo tổng kết của các cơ quan chuyên môn, các bài báo, tập chí có liên quan.
Day là nguồn tai liệu tham khảo hữu ích cho quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài. BEKELE, Eshetu Tefera (2021) đã tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người sản xuất sữa trong các hợp tác xã tiếp thị sữa: Bằng chứng từ Ethiopia. Bài nghiên cứu thực hiện theo phương pháp thống kê mô ta và sử dụng mô hình logit nhị phân để phân tích kết quả khảo sát 1500 hộ mẫu được chọn ngẫu nhiên theo phương pháp với xác suất tương ứng với quy mô. Kết quả mô hình cho thấy, trong số 13 biến giả thuyết ban đầu được đưa ra để giải thích ảnh hưởng đến quyết định tham gia vào HTX tiếp thị sữa của nông dân sản xuất sữa thì có 11 biến là có ý nghĩa thống kê.
Đó là các biến: trình độ học vấn, quy mô gia đình, thu nhập phi nông nghiệp, quy mô đàn bò, tiếp cận tín dụng, s6 lượng bo sữa san xuat dang giữ, số lao động trong hộ, nhận thức về HTX của nông hộ, khoảng cách đến trung tâm thu mua sữa của HTX và nông hộ, sự sẵn có của các dịch vụ khác, khả năng tiếp cận với dịch vụ khuyến nông. Kết quả mô tả cũng cho thấy rằng các thành viên của HTX tiếp thị sữa sẽ được hưởng lợi nhiều sơn so với các thành viên không tham gia. Tác giả cho thấy rằng, việc các HTX tiếp thị sữa cung cấp các dịch vụ và lợi ích khác nhau liên quan đến sữa sẽ thúc đây sự tham gia tích cực của các nông hộ sản xuất sữa. Tác giả cũng kiến nghị các ban giám đốc của các HTX tương ứng nên thiết kế các chiên lược phù hợp và áp dụng các kĩ thuật đổi mới dé chuyền đổi các HTX của mình về mặt kinh tế và xã hội bằng cách tăng số lượng thành viên.
Lưu Tiến Dũng (2020) đã thực hiện nghiên cứu phân tích mô hình logit đa thức về sự tham gia của nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp: Bằng chứng từ Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm kiểm tra các yếu tố quyết định đến hành vi tham gia của nông dân trong HTX nông nghiệp. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic đa thức với 640 hộ nông dân được kháo sát ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Kết quả ước tính cho thấy nông dân sẽ có nhiều khả năng tham gia vào HTX nông nghiệp nếu họ có nhiều lợi ích hơn từ các nguồn lực, bao gồm trình độ học vấn cao hơn, quy mô canh tác, khả năng tiếp cận tín dụng, vốn xã hội, khả năng tiếp cận mở rộng và các hạn chế về thị trường.
Nông dân cũng coi HTX là các tô chức có thé giúp họ giảm thiểu rủi ro sản xuất và nâng cao cơ hội mở rộng hoạt động kinh doanh của họ. Tác giả đã đưa ra các chính sách khuyến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu dé các tô chức, cơ quan hành chính có liên quan có thé thực hiện dé mở rộng sự tham gia của các nông hộ vào HTX. Tuy nhiên, bài nghiên cứu này cũng có những hạn chế nhất định như việc chỉ xem xét nông dân tham gia như một biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu, các biến thay thế khác (cam kết và cường độ của nông dân trong hành động hợp tác, hiệu quả hoạt động nông nghiệp của HTX) không được xem xét trong nghiên cứu này. Thêm vào đó là các tập hợp dữ liệu chỉ được thu thập ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, do đó mô hình không thể đại điện cho khu vực khác hoặc thực sự là cả nước.
Lê Thị Ngọc Hương và Nguyễn Hữu Tâm (2019) đã thực hiện phân tích các nhân tố tác động đến quyết định tham gia tổ hợp tác cua biển của nông hộ nuôi cua huyện Năm Căn, tỉnh Ca Mau. Số liệu trong nghiên cứu bao gồm sé liệu thứ cấp lấy từ Tổng cục thống kê, Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cà Mau, Hiệp hội thủy sản tỉnh Cà Mau, báo cáo của UBND tỉnh Cà Mau, huyện Năm Căn và số liệu sơ cấp thông qua điều tra phỏng vấn trực tiếp 182 hộ nuôi cua trên địa bàn huyện Năm Căn. Bằng việc sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, tần số, kiểm định T-test, phương pháp hồi quy Probit, kết quả nghiên cứu cho thấy các biến tuổi, số thành viên trong gia đình, khả năng tiếp cận thị trường và khả năng tiếp cận tín dụng có tác động tiêu cực đến quyết định tham gia vào tô hợp tác; ngược lại các biến số năm kinh nghiệm, diện tích sản xuất, lợi nhuận, niềm tin vào hiệu quả hoạt động tô hợp tác có tác động tích cực đến quyết định 6 tham gia tô hợp tác của nông hộ nuôi cua. Trên cơ sở kết quả đó, nghiên cứu cũng gợi ý các giải pháp dé nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ hợp tác, từ đó thu hút các nông hộ tham gia vảo tổ hợp tác.
Dinh Phi Hồ và cộng sự (2021) đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hướng đến quyết định tham gia hợp tác xã của nông dân trồng lúa: Trường hợp nghiên cứu ở Đồng bằng sông Cửu Long. Dựa vào khung lý thuyết kinh tế học và thực tiễn Việt Nam, nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát trực tiếp 450 hộ nông dân trồng lúa ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và áp dụng mô hình hồi quy Binary Logistic để phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tô ảnh hưởng bao gồm: giới tính, khoảng cách từ HTX đến trung tâm gần nhất, mức độ tiếp xúc với cán bộ khuyến nông, khả năng tiếp cận tín dụng, diện tích dat, cảm nhận lợi ích đem lại, trình độ học van, chính sách hỗ tro, tuổi của chủ hộ. Bài nghiên cứu cũng đưa ra các chính sách đề nâng cao khả năng nông hộ tham gia vào HTX.
Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng có các hạn chế như đối tượng khảo sát chỉ lấy từ 3 tỉnh thành của ĐBSCL, nên hạn chế tính khái quát của nghiên cứu; nghiên cứu chỉ xem xét 11 yếu tố tác động đến hành vi nông dân tham gia HTX, còn những yếu tố khác có tác động mà nghiên cứu này chưa đề cập đến. Nguyễn Thị Bích Lan (2013) đã phân tích các yêu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia hợp đồng tiêu thụ mía đường của nông hộ tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Bài nghiên cứu đã sử dụng kết quả bảng câu hỏi điều tra 40 hộ nông dân có tham gia hợp đồng và 20 hộ nông dân không tham gia hợp đồng cùng với nguồn số liệu thứ cấp từ các chính quyền địa phương. Tác giả đã sử dung các phương pháp thông kê mô ta, so sánh, phân tích tổng hợp, phân tích hồi quy.
Kết quả cho thấy sự tham gia hợp đồng mang lại nhiều lợi ích cho bà con nông dân, tuy nhiên xác suất tham gia hợp đồng của nông hộ trồng mía tại tỉnh Tây Sơn là chưa cao. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở dé đề xuất giải pháp nhằm xây dựng mối quan hệ bền vững giữa nông hộ và nha máy. Khổng Tiến Dũng và cộng sự (2021) đã thực hiện phân tích các nhân tố anh hưởng đến quyết định tham gia hợp tác xã của nông hộ tại tỉnh Hậu Giang. Bài nghiên cứu sử dụng thang do Likert, T-test và mô hình Logit nhị phân dé phân tích số liệu sơ được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 160 nông hộ sản xuất lúa.
Kết quả cho thấy có sự khác biệt về kinh nghiệm, diện tích, tập huấn và tham gia HTX giữa 2 nhóm hộ. Mô hình Logit nhị phân chỉ ra có 2 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia là điện Ỷ tích và kinh nghiệm. Các hàm ý chính sách được đề xuất nhằm thúc đây việc tham gia HTX của nông hộ. Từ những tài liệu trên cho thấy rằng đa phần các tác giả sử dụng các phương pháp như phương pháp thống kê mô tả, phương pháp hồi quy Binary Logistic, hồi quy Probit, so sanh,.
dé phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia vào HTX, tổ hợp tác hay hợp đồng nông nghiệp của nông hộ. Các nghiên cứu có sự khác biệt về số lượng các biến độc lập, nhưng kết quả đều cho thấy các biến tuôi, trình độ học van, kinh nghiệm, lao động, diện tích, khoảng cách của nông hộ đến trung tâm thu mua gần nhất, tham gia các tổ chức nông dân, số lần tiếp xúc với cán bộ khuyến nông, khả năng tiếp cận tín dụng đều có tác động đến biến phụ thuộc là quyết định tham gia. Kết quả của các bài nghiên cứu đều cho thấy nông hộ tham gia vào các HTX, tổ hợp tác, hợp đồng nông nghiệp đều được hưởng lợi nhiều hơn so với các nông hộ không tham gia.