chương 1. Kết quả và thảo luận Trình bày về thực trạng sản xuất bưởi, chương trình triển khai và thực hiện VietGAP trên cây bưởi tại địa phương. Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình, các yếu 3 tố ảnh hưởng đến việc quyết định thực hiện sản xuất bưởi da xanh theo tiêu chuẩn VietGAP. Kết luận và giải pháp Kết luận nội dung và kết quả nghiên cứu chính, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm mở rộng quy mô sản xuất bưởi da xanh theo tiêu chuân VietGAP của nông hộ.
CHƯƠNG 2 TONG QUAN 2. Tông quan về tài liệu nghiên cứu Tổng quan nước ngoài Suwanmanee Pong, S. Một cuộc điều tra về các yêu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện GAP giữa các nông dân trồng cây ăn quả ở tỉnh Rayong, Thái Lan. Sản xuất trái cây, với tư cách là ngành chính, đặc biệt quan tâm đến an toàn thực phẩm liên quan đến giảm sử dụng thuốc trừ sâu.
Do đó, tiêu chuẩn GAP và hướng dẫn nên được cung cấp cho người trồng trái cây. Vì lý do trên, nghiên cứu này nhằm điều tra việc thực hiện GAP hiện tại của nông dân trồng cây ăn quả, và xác định các yêu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện GAP đó. Một loạt các cuộc khảo sát đã được thực hiện ở tỉnh Rayong bằng cách sử dụng bảng câu hỏi có cấu trúc được thực hiện cho 258 nông dân trồng cây ăn quả. Mười yếu tố được khảo sát ảnh hưởng của chúng đến việc thực hiện GAP là giới tính, độ tuôi của chủ hộ, trình độ học van, thành viên trong hộ, lao động gia đình, kinh nghiệm canh tác cây ăn quả, nông dan, thành viên của tổ chức, quy mô sở hữu dat, chủ sở hữu dat và tham gia đào tao GAP.
Dữ liệu được phân tích bằng cách sử dụng phân tích thống kê mô tả và phương pháp hồi quy tuyến tính. Kết quả cho thấy các yếu tô ảnh hưởng tích cực đến việc thực hiện GAP bao gồm năm canh tác, kinh nghiệm canh tác cây ăn quả (mức ý nghĩa 5%) và việc tham gia tập huấn GAP (mức ý nghĩa 1%). Những kết quả này đã làm nồi bật mối quan hệ giữa các yếu tô kinh tế - xã hội và việc thực hiện GAP. Các phát hiện có thé hữu ich cho các bên liên quan dé hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện GAP của nông dân trông cây ăn quả.
(2019), với dé tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng điều tốt Thực hành nông nghiệp và quyết định xuất khâu của Nông dân trồng rau của Thái Lan”. Nghiên cứu này đã xác định và điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các quy trình thực hành nông nghiệp tốt (GAP) và việc ra quyết định sản xuất măng tây và ngô ngọt quy mô nhỏ của nông dân Thái Lan để xuất khâu. Trong nghiên cứu, tong số 147 hộ nông dân trồng rau (lần lượt là 66 và 81 hộ trồng măng tây và ngô ngọt) được chọn ngẫu nhiên từ các khu vực chuyên canh rau. Hồi quy logistic nhị phân được sử dụng dé phân tích thông tin thu thập được từ cuộc khảo sát này.
Kết qua cho thấy biến thu nhập là yếu tô ảnh hưởng lớn nhất đến việc áp dung GAP của nông dân trồng rau tham gia và yếu tố địa điểm ảnh hưởng nhiều nhất đến quyết định xuất khâu của người trồng. Ngoài ra, có thé thấy rang dé tăng tý lệ áp dung GAP một cách hiệu quả đối với những người trồng rau Thái Lan, các nhà xuất khẩu và các cơ quan chính phủ có liên quan có thé bắt buộc chứng nhận GAP. Tổng quan trong nước Trần Sỹ Hân (năm 2017), thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng bưởi da xanh tại xã sông xoài, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu”, tác giả đi sâu phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình trồng bưởi da xanh, thông qua việc đánh giá lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận của mô hình và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định trồng bưởi da xanh. Từ đó giúp cho chính quyền địa phương, ngành nông nghiệp và người dân địa phương thấy được hiệu quả mô hình trồng bưởi da xanh mang lại những gì.
Đồng thời đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả mô hình trồng bưởi da xanh được bền vững và thích hợp với thực tiễn địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thay, chi phí trung bình đầu tư trong giai đoạn xây dựng cơ bản cho 1 ha đất trồng bưởi da xanh là 106,79 triệu đồng/ha (đã tính khấu hao). Năng suất bình quân đạt được 21,75 tan/ha, giá bán bình quân đạt 29. Lợi nhuận của mô hình trồng bưởi Da xanh đem lại bình quân 362,8 triệu đồng/ha.
Bên cạnh đó, mô hình bưởi Da xanh giúp thu hút nhiều lao động nhàn rỗi, thậm chí còn tạo công ăn việc làm cho cả phụ nữ và người lớn tuổi, góp phan tăng thu nhập cho nông hộ. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất bưởi trong dài hạn khá cao, có NPV = 145,11 triệu đồng và TRR đạt 35,77%, cho thấy mô hình chuyên canh bưởi da xanh đem lại hiệu quả kinh tế cao. Qua mô hình hồi quy cho thấy các yếu tố như: trình độ học van, kinh nghiệm, diện tích đất, giá bán, vay 6 tín dụng, số lần tham gia tập huấn khuyến nông, việc tiếp cận thông tin nông nghiệp có ảnh hưởng đến quyết định tham gia mô hình trồng bưởi da xanh trên địa bàn xã Sông Xoài. Huỳnh Văn Hiền (năm 2020) đã thực hiện dé tài “Các yếu tổ ảnh hưởng đến mô hình liên kết trong nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam”.
Nghiên cứu sử dụng bảng phỏng vấn cấu trúc kết hợp chọn hộ ngẫu nhiên phân tầng để thu số liệu từ 271 cơ sở nuôi cá tra với các hính thức liên kết khác nhau. Mô hình hồi qui nhị phân (binary logistic) được sử dụng dé phân tích các yêu tố ảnh hướng đến mô hình liên kết. Kết quả phân tích của mô hình hồi qui đã xác định được 4 yếu tố có ảnh hưởng tới liên kết của mô hình nuôi cá được xếp theo thứ tự quan trọng từ cao đến thấp gồm trình độ học vấn của chủ cơ sở, diện tích nuôi, lợi nhuận và giá thành. Tuy nhiên, chia sẻ lợi nhuận và rủi ro giữa các bên có liên quan cần phải được quan tâm đề mô hình liên kết 6n định và phát triển lâu dài.
Bên cạnh, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nuôi cá tra theo hình thức gia công cho nhà máy chế biến có năng suất (517 tan/ha/vu) và tỷ suất lợi nhuận (17,1%) cao nhất so với các hình thức nuôi khác. Trần Quốc Nhân và cộng sự (2021), đã thực hiện đề tài “Yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng VietGAP của hộ trồng xoài ở Đồng Bằng sông Cửu Long”. Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận áp dụng tiêu chuẩn VietGAP vào sản xuất xoài của nông hộ ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Số liệu sử dụng cho nghiên cứu được thu thập từ 1 10 hộ sản xuất xoài, trong đó 49 hộ sản xuất theo quy chuẩn VietGAP và 61 hộ sản xuất tự do tại tinh Hậu Giang và Sóc Trăng.
Mô hình hồi qui nhị phân (logit) được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu dé phân tích số liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy nêu nông hộ có tham gia vào các tô chức nông dân, tần suất tiếp cận Cán Bộ Khuyến Nông (CBKN) nhiều và hộ có có tiếp cận với Internet sẽ có xu hướng chấp nhận áp dụng quy chuẩn VietGAP vào sản xuất xoài. Trong khi đó, trình độ học vấn chủ hộ càng cao thì hộ ít có xu hướng áp dụng VietGAP. Nguyễn Duy Cần và cộng sự (2013) đã “Đánh giá hiệu quả kinh tế và các lợi ích xã hội của mô hình canh tác bắp rau theo tiêu chuẩn GloBalGAP tại chợ mới, An Giang”.
Nhằm tìm hiểu thực trạng sản xuất, hiệu quả kinh tế và các lợi ích xã hội môi trường đem lại của mô hình canh tác bắp rau theo tiêu chuẩn GlobalGAP. Với phương pháp PRA dự báo triển vọng của sản xuất bắp rau theo tiêu chuân GlobalGAP tại địa phương. a Kết quả nghiên cứu cho thấy nông dân áp dụng mô hình sản xuất bắp rau theo tiêu chuẩn GlobalGAP có bón phân hữu cơ, năng suất bắp rau có bón phân hữu cơ và áp dụng GAP cho năng suất cao, 2,5-3,0 tan/ha/vu. Mô hình sản xuất bắp rau theo tiêu chuẩn GlobalGAP cho hiệu quả kinh tẾ cao, lợi nhuận ròng là 22,6 triệu/ha/vụ.
Hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất bắp rau theo tiêu chuân GlobalGAP kết hợp nuôi bò thì cao hơn 27,4 triệu/ha/vụ, MBCR giữa mô hình ap dụng GlobalGAP và không áp dung GlobalGAP rất cao. Mô hình sản xuất bắp rau theo tiêu chuẩn GlobalGAP tỏ ra thích hợp, mang lại nhiều lợi ích xã hội-môi trường, nông dân chấp nhận và được đánh giá có triển vọng phát triển tại địa phương. Trần Quốc Nhân và cộng sự (2016) đã phân tích nguyên nhân nông dân từ bỏ sản xuất vú sữa Lò Rèn theo tiêu chuẩn GloBalGAP tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích đặc điểm kinh tế - xã hội của nông hộ sản xuất vú sữa Lò Rèn theo quy trình Globalgap, làm rõ lý do chấp nhận áp dụng và nguyên nhân từ bỏ sau khi đạt được chứng nhận sản xuất theo Global GAP.
Phân tích thống kê mô tả và kiêm định T-test được áp dung dé xác định thực trạng và nguyên nhân từ bỏ áp dụng quy trình GAP trong sản xuất vú sữa Lò Rèn của nông hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy đề thực hiện quy trình GAP người dân phải có trình độ nhất định cũng như có điều kiện kinh tế đề có thể xây dựng một số công trình cơ bản; kỳ vọng về giá bán sản phẩm GAP với giá cao và chất lượng an toàn là lý do chính dé nông dân áp dụng GAP; việc áp dụng quy trình GAP đã mang lại lợi ích cho nông dân như giảm lượng phân bón hóa học và thuốc nông dược cũng như an toàn môi trường. Tuy nhiên đầu ra và giá bán sản phẩm đạt tiêu chuẩn GAP không ổn định là lý do chính yếu dé nông dân từ bỏ áp dụng GAP. Trần Quốc Hùng và Bùi Đức Hùng (2020) đã phân tích các nhân tô tác động đến ứng dụng công nghệ cao trong chăn nuôi bò vùng Tây Nguyên.
Nghiên cứu những thay đổi ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp trở thành một lĩnh vực nghiên cứu sôi nổi từ đầu thé kỷ 20.