Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học Cây cải xanh có tên là “Brassica juncea” thuộc họ thập tự (Brassicaceae), là cây rau được sử dụng rộng rãi và chiếm vị trí quan trọng trong ngành rau nhờ chủng loại phong phú. Họ thập tự tập trung tại khu vực ôn đới có sự đa dạng về loài lớn nhất tại khu vực địa trung hải. Lợi ích của cây cải xanh là không thể phủ nhận được, rau là thực phẩm không thể thiếu trong đời sống con người.
Rau nói chung và rau cải xanh nói riêng là nguồn cung cấp vitamin A, vitamin C, riboflavin, tiamin và các chất khoáng như: Ca, Fe…Ngoài việc dùng trong bữa ăn hàng ngày rau còn là nguyên liệu chế biến bánh keọ, nước giải khát, hương liệu, dược liệu…Rau cải được trồng và tiêu thụ mạnh không những trong nước mà cả thế giới. Ngoài những chất dinh dưỡng quan trọng thì nó còn chúa một lượng chất xơ lớn có tác dụng kích thích hoạt động của nhu mô ruột giúp tiêu hoá được thuận lợi. Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay vấn đề tăng cường, nâng cao chất lượng rau quả ngày càng được nhiều quốc gia chú trọng. Trong các nguyên nhân trên thì nguyên nhân ô nhiễm do hóa chất bảo vệ thực vật và nitrat là phổ biến hơn cả bởi vì rau xanh có thời gian sinh trưởng ngắn, khối lượng sinh khối lớn nên là đối tượng sử dụng phân bón, thuốc BVTV cao hơn so với các cây trồng khác.
Lào Cai là tỉnh miền núi phía Bắc có địa hình phức tạp, phân tầng độ cao lớn, chia cắt mạnh, hình thành các tiểu vùng khí hậu khác nhau, từ nhiệt đới đến á nhiệt đới, tạo nên hệ sinh thái đa dạng, phong phú, đặc biệt như Sa Pa, Bắc Hà…, là điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất rau. Đã có nhiều mô hình sản xuất rau ứng dụng khoa học kỹ thuật như mô hình giống mới góp phần đa dạng hóa chủng loại rau của tỉnh, mô hình cơ giới hóa, mô hình trồng rau trái vụ,.Tổ chức sản xuất rau, đặc biệt là sản xuất rau an toàn được sự sự tham gia tích cực của các hộ trồng rau trên địa bàn tỉnh. e 4 Tuy nhiên, kỹ thuật canh tác rau nói chung và cải xanh an toàn theo hướng VietGap còn nhiều bất cập do chưa có nghiên cứu nào đánh giá bộ giống rau cũng như các biện pháp kỹ thuật đi cùng để xác định được năng suất, chất lượng có được đảm bảo an toàn. Đặc điểm giống rau cải xanh 1.
Nguồn gốc, phân bố Cải xanh (Brassica juncea L.) hay còn gọi là cải bẹ xanh, cải canh, cải cay là cây trồng thuộc họ cải Brassicaceae. Họ này trước đây được gọi là Cruciferae (thập tự), do bốn cánh hoa trên hoa của chúng trông tương tự như hình thập tự. Nhiều nhà thực vật học vẫn còn gọi các thành viên của họ này là các loài "hoa thập tự". Tên gọi Brassicaceae có nguồn gốc từ chi điển hình của họ là chi Brassica.
Hiện nay, chưa xác định được nguồn gốc của cải xanh. Tuy nhiên, theo nhiều tác giả, cải xanh có thể có nguồn gốc từ vùng Trung Á, đặc biệt là từ Trung Quốc, Ấn Độ. Sau khi xâm nhập vào Ấn Độ và Trung Quốc năm 2000 năm trước, nó phân li thành các loài khác nhau: Brassica juncea, Brassica campestris, Brassica nigra, Brassica napus và Brassica carnita. Do đó, nhiều quan điểm đã xếp hai họ này thành một họ lớn dưới tên gọi Brassicaceae.
Các hệ thống phân loại khác vẫn tiếp tục công nhận họ Capparaceae nhưng với định nghĩa chặt chẽ hơn, hoặc là đưa cả chi Cleome và các họ hàng gần của nó vào trong họ Brassicaceae hoặc là công nhận chúng như một họ riêng dưới tên gọi Cleomaceae. Ngày nay, Brassica juncea L. chủ yếu được trồng ở Trung Quốc, Ấn Độ, Canada, Pakistan, Nga và châu Âu. Ở nước ta, cải xanh được trồng rất phổ biến khắp cả nước, chủ yếu được sử dụng để ăn lá.
Cải xanh có thể trồng quanh năm, trừ những tháng nóng và mưa nhiều. Ở miền Bắc Việt Nam có hai vụ: Vụ chiêm tháng 2-6, gieo 30-35 ngày thì được thu hoạch; Vụ mùa tháng 8-11, gieo 20-25 ngày thì nhổ cấy, 30-35 ngày sau ăn được. Phân loại Cải xanh (Brassica juncea L.) thuộc chi: Brassica, họ thập tự Brassicaceae, bộ màn mànCapparales. Chi Brassica là một thành viên quan trọng trong họ thập tự, nó bao gồm nhiều loài có giá trị kinh tế, có thể được sử dụng để ăn củ, thân, lá, hoa, hạt được dùng để làm gia vị.
là loài được sử dụng chủ yếu để ăn lá và hạt (Doddabhimappa et al. Họ thập tự hay họ cải là một họ lớn với hơn 350 chi và khoảng 3000 loài phân bố chủ yếu ở Bắc bán cầu, đặc biệt ở vùng Địa Trung Hải và Trung Á. Ở nước ta, họ này có 6 chi với khoảng 20 loài (Hoàng Thị Sản, 2007). Căn cứ vào đặc điểm của cuống lá, phiến lá (kích thước, hình dạng, màu sắc.các giống rau cải của nước ta hiện nay được phân thành 3 nhóm: - Nhóm cải bẹ (Brassica campesris L.) Nhóm cải bẹ còn gọi là nhóm cải dưa (chủ yếu để muối dưa).Nhóm cải này ưa nhiệt độ thấp, chịu lạnh.
Nhiệt độ thích hợp 15 - 220C do đó trồng thích hợp trong vụ Đông Xuân. Đặc điểm nhóm cải bẹ là có bẹ lá to, dày, dòn, lá lớn. Năng suất của 1 cây có thể 2 - 4 kg, thời gian sinh trưởng từ lúc gieo đến thu hoạch từ 120 - 160 ngày. - Nhóm cải xanh/cải cay/cải canh (Brassica juncea L.) Nhóm cải xanh có khả năng chịu được nóng và mưa to, nhóm cải này có khả năng thích nghi rộng, thường được trồng quanh năm đặc biệt trong vụ Xuân Hè và vụ Thu Đông.
Cải xanh có cuống hơi tròn, nhỏ, ngắn. Phiến lá nhỏ và hẹp, bản lá mỏng, cây thấp, nhỏ, lá có màu xanh vàng đến xanh đậm ăn có vị cay nên gọi là cải cay, dễ để giống. - Nhóm cải thìa/ cải trắng (Brassica chinensis L.) Nhóm cải thìa có đặc điểm dễ phân biệt đó là hình lóng máng, màu trắng, phiến lá hơi tròn, cây mọc gọn, có khả năng thích ứng rộng (10 - 270C) nên có thể trồng được quanh năm. Nhóm này có thời gian sinh trưởng ngắn sau trồng 30 - 50 ngày có thể thu hoạch, dễ để giống, có thể trồng xen, gieo lẫn các loại rau khác và cải xanh chống giáp vụ rau.
Đặc điểm thực vật học của cây cải xanh: Họ cải là những cây thân thảo, sống hằng năm, lá đơn, mọc cách, không có lá kèm. Hệ rễ nông, chủ yếu phân bố ở tầng đất mặt, khả năng chịu hạn kém; Thân trong giai đoạn đầu sinh trưởng và phát triển chậm, khi cây bắt đầu có nụ thì thân mới vươn cao và phân thành nhiều nhánh; Lá có hai phần chủ yếu là cuống lá và phiến lá. Cuống lá nhỏ hơi tròn, phiến lá nhỏ hẹp, bản lá mỏng có màu từ xanh vàng đến xanh đậm. Diện tích lá thường lớn nên không chịu được hạn do nước bị bốc hơi nhiều; Hoa tập hợp thành cụm hoa chùm đơn hay chùm kép, không có lá bắc.
Hoa có màu vàng, kích thước nhỏ, đều, mẫu 2, đài 4 mảnh, xếp thành 2 vòng chéo chữ thập; Quả thuộc loại quả cải do hai noãn dính với nhau thành bầu 1 ô, nhưng bị ngăn đôi thành 1 vách giả, làm thành cái khung mang hạt. Khi chín, vỏ quả được mở bởi 4 kẽ nứt dọc theo 2 khung bên để tách thành 2 mảnh vỏ, giải phóng hạt ra bên ngoài, loại quả này đặc trưng cho các cây họ cải; Hạt có kích thước rất nhỏ, màu nâu đỏ hoặc nâu sẫm, vỏ hạt nhẵn (Hoàng Thị Sản và cs., 2001; Tạ Thu Cúc và cs. Cây cải xanh có thân to, lá có màu xanh đậm hoặc xanh nõn lá chuối. Lá và thân cây có vị cay, đăng đắng thường dùng phổ biến nhất là nấu canh, hay để muối dưa cải hoặc các món xào phổ thông.
Cải được trồng bằng hạt và ưa sống ở những vùng khí hậu lạnh. Những mô hình nhà kính trong nông nghiệp cho phép rút ngắn thời gian thu hoạch của rau cải. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây cải xanh: Ở nước ta, cải xanh được trồng rất phổ biến khắp cả nước, chủ yếu được làm rau ăn. Do thích nghi với dải nhiệt độ rộng (10 –27oC), nên cải xanh có thể được trồng quanh năm (trừ những tháng nóng và mưa nhiều).
Ở miền Bắc có hai vụ: vụ chiêm gieo hạt khoảng tháng 2, sau khoảng 30-35 ngày thì được thu hoạch; và vụ mùa gieo hạt khoảng tháng 8, 30-35 thì được thu hoạch (Trần Khắc Thi, 2011). - Yêu cầu về nhiệt độ: Trong các yếu tố ngoại cảnh, nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sản lượng và chất lượng cây rau.Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự bốc hơi nước, hấp thụ chất e 7 dinh dưỡng, sự đồng hóa, hô hấp, tích lũy chất dự trữ và các quá trình sinh lý khác. Ở nhiệt độ thấp hoặc cao quá có thể làm chết cây hay huỷ hoại các cơ quan riêng biệt của cây. Nhiệt độ vượt quá giới hạn thích hợp thì khí khổng sẽ đóng lại, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi CO2, O2, hơi nước, quá trình hô hấp tăng trong khi quá trình quang hợp giảm, cây bị tiêu hao vật chất dẫn đến sinh trưởng kém, năng suất và chất lượng giảm (Trần Khắc Thi, 2011).
Cải xanh là loại cây ưa thích khí hậu ôn hòa, mát mẻ. Hạt cải xanh có thể nảy mầm ở 15 - 20oC, trong đó nhiệt độ thích hợp cho hạt nảy mầm dao động trong khoảng 20 - 25oC. Cây cải xanh có thể sinh trưởng, phát triển ở nhiệt độ từ 10 - 270 C, sinh trưởng tốt nhất ở nhiệt độ 18 - 22oC.Trong điều kiện nhiệt độ cao trên 280C kết hợp với độ ẩm không khí thấp sẽ ảnh hưởng xấu đến sinh lý và chất lượng rau lúc thu hoạch (Trần Khắc Thi, 2011). - Yêu cầu về ánh sáng: Cây rau nói chung và cải xanh nói riêng là loại cây rất nhạy cảm với sự thay đổi thành phần, cường độ và thời gian chiếu sáng.
Rau có nguồn gốc khác nhau thì nhu cầu ánh sáng cũng khác nhau. Thời gian chiếu sáng đặc biêt quan trọng đối với các loại rau ăn hoa như sup lơ, ăn quả như bầu, bí ,đậu, cà .và những loại rau để giống lấy hạt. Thời gian chiếu sáng còn ảnh hưởng đến khả năng tạo củ của những cây lấy củ như: củ đậu tạo củ trong điều kiện ngày ngắn, hành tây tạo củ trong điều kiên ngày dài (Tạ Thu Cúc và cs. Năng suất cây trồng tạo ra 90-95% là nhờ quang hợp.
Ánh sáng có vai trò rất quan trọng đối với đời sống thực vật.