Chương 1 là cơ sở để xác lập cơ sở lý luận về văn hóa kinh doanh trong Chương 2. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ KINH DOANH 2. Khái niệm chung về văn hoá Nghiên cứu vai trò của văn hóa đối với phát triển nói chung và đối với doanh nghiệp nói riêng trước hết phải có một khái niệm chính xác và nhất quán về văn hóa cũng như cấu trúc của nó. Văn hóa là một khái niệm rất rộng, đến mức hầu như mỗi nhà văn hóa đều có một khái niệm riêng về văn hóa.
Cho đến nay có khoảng hơn 400 khái niệm về văn hóa. Các khái niệm đó không giống nhau tùy theo cách hiểu rộng hẹp khác nhau, trong khi văn hóa là lĩnh vực vô cùng rộng lớn, phong phú và phức tạp. Mặt khác, cũng như các lĩnh vực khoa học xã hội khác, ngành khoa học về văn hóa có tính chất lịch sử và phát triển xuyên suốt lịch sử loài người, từ văn hóa dân gian có văn tự và không văn tự đến văn hóa chỉnh thể của các chế độ đương thời. Trong quá trình lịch sử đó nội dung và khái niệm của văn hóa cũng thay đổi theo.
Đó là hiện thực khách quan. Sau đây là một số trong những khái niệm đó. Năm 1970, UNESCO đã định nghĩa: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”. Để tạo điều kiện cho định hướng tiếp cận văn hóa, năm 1977 tổ chức văn hoá, giáo dục, khoa học của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã cho xuất bản tác phẩm Hiểu biết để hành động, trong đó có đoạn viết: “Văn hoá là yếu tố cơ bản cho sức sống một dân tộc, từ những hoạt động sáng tạo của nhân dân đến sức sống tổng hợp của một xã hội, những phương thức sản xuất và sở hữu, những của cải vật chất, những hình thái tổ chức…”.
Tháng 12 năm 1986, UNESCO phát triển thêm định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ, hiện tại qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và cách thể hiện, đó là những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” (dẫn theo Dương Thị Liễu, 2012). Ta thấy rằng, mỗi dân tộc có những đặc tính riêng tạo nên những nét độc đáo đặc trưng cho từng dân tộc, những cái riêng đó luôn luôn tiếp thu những giá trị mới để phát triển, luôn sáng tạo cho phù hợp với hiện tại và tương lai. Đối với doanh nghiệp, hệ thống các giá trị tốt đẹp được duy trì, phát triển tạo nên những đặc trưng riêng của mỗi doanh nghiệp phù hợp với xu thế, hội nhập với xã hội 9 và phát triển bền vững dựa trên những giá trị tốt đẹp được bồi đắp, xây dựng qua nhiều thế hệ… Edward B. Taylor (1924) cho rằng: "Văn hóa là một phức thể bao gồm kiến thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, tập quán và tất cả những khả năng và tập tục khác cần thiết cho con người trong một xã hội".
Một số nghiên cứu trong nước tiêu biểu như sau: Theo Trần Ngọc Thêm (2004), “văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. Ta thấy rằng, văn hóa do con người tương tác với tự nhiên và xã hội tạo ra giá trị tốt đẹp cho thế hệ sau tiếp nối, duy trì và phát triển phù hợp với môi trường tự nhiên và xã hội. Hoàng Vinh trong "Đề cương văn hóa và Tôn giáo" đã khẳng định “văn hóa là vốn hiểu biết của con người, tích lũy được trong suốt quá trình hoạt động thực tiễn - lịch sử, được kết tinh lại thành các giá trị và chuẩn mực xã hội, gọi chung là hệ giá trị xã hội, biểu hiện ở vốn di sản văn hóa và phong cách ứng xử của cộng đồng. Hệ giá trị là thành tố cơ bản làm nên bản sắc riêng của mọi cộng đồng xã hội, có khả năng liên kết các thành viên làm cho cộng đồng trở thành một khối vững chắc và có khả năng điều tiết hoạt động của các thành viên sống trong cộng đồng xã hội ấy”.
Theo Chủ Tịch Hồ Chí Minh (1943): “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở, và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sinh tồn”. Người đã nhìn văn hóa là phương thức để con người tồn tại và phát triển.
văn hóa có mặt trong tất cả các hoạt động của con người, dù đó là hoạt động sản xuất vật chất hay sản xuất giá trị tinh thần, trong quan hệ giao tiếp, ứng xử trong xã hội hay thái độ ứng xử với thiên nhiên. Ta thấy rằng, sự tồn tại của doanh nghiệp được gắn liền với văn hóa đó là sáng tạo để tồn tại. 10 Theo Phạm Văn Đồng cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” (dẫn theo Trần Quốc Vượng, 2005). Ta thấy rằng, trong quá trình hình thành, xây dựng và phát triển một đất nước, một tổ chức, một doanh nghiệp, văn hóa luôn gắn với quá trình hình thành, tồn tại và phát triển.
Tóm lại, văn hóa là một khái niệm rất rộng, trong đó giá trị vật chất và tinh thần làm nền tảng định hướng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn và hành động hướng đến cái Chân, Thiện, Mỹ. Từ ý nghĩa đó ta rút ra giá trị vật chất và tinh thần như sau: “Văn hóa là nguồn lực nội sinh của con người, là kiểu sống và bản giá trị của các tổ chức, cộng đồng người, trung tâm là các giá trị Chân - Thiện - Mỹ ” (Đỗ Minh Cương, 2001). Khái niệm về văn hoá kinh doanh Văn hoá kinh doanh là một phương diện của văn hoá xã hội, được thể hiện trong lĩnh vực kinh doanh. Văn hoá kinh doanh được cấu thành từ nhiều yếu tố và đóng vai trò rất quan trọng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Để xây dựng và phát huy vai trò của văn hoá kinh doanh mang sắc thái Việt Nam, theo tác giả, cần: thứ nhất, tạo môi trường thuận lợi cho văn hoá kinh doanh Việt Nam hình thành và phát triển; thứ hai, xây dựng và phát huy văn hoá doanh nghiệp; thứ ba, xây dựng và bồi dưỡng một đội ngũ đông đảo những doanh nhân có văn hoá. Văn hóa kinh doanh được thể hiện và chỉ có thể được thể hiện thông qua vật mang nó là doanh nghiệp. Nhưng để có một định nghĩa mạch lạc cho thuật ngữ văn hóa kinh doanh hầu như đã không dễ dàng, bởi lẽ về ngữ nghĩa thì ngay như khái niệm "văn hóa" cũng đã có hàng trăm cách diễn đạt khác nhau đã trình bày trên. Marvin Bower, Tổng giám đốc Mackinsey Company cho rằng: "Văn hóa kinh doanh là tất cả các thành tố mà chúng ta đang thực hiện trong quá trình kinh doanh và di sản để lại cho 11 thế hệ kế tiếp".
Như vậy, văn hóa hiện diện ở bất kỳ doanh nghiệp nào, tuy nhiên một doanh nghiệp phát triển phải có một nhãn quan rộng, tham vọng lâu dài, xây dựng được một nếp văn hóa có bản sắc riêng, thể hiện sự khác biệt vượt trội. Văn hóa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hóa vào hoạt động kinh doanh, là cái mà các chủ thể kinh doanh áp dụng hoặc tạo ra trong quá trình hình thành nên những nền tảng có tính ổn định và đặc thù trong hoạt động kinh doanh của họ. Văn hóa kinh doanh là tất cả các giá trị tinh thần (dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể) có được của một doanh nghiệp trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp ấy - đã trở thành chuẩn mực và nguồn động lực chủ yếu nhất - thâm nhập vào và chi phối các quan niệm, tập quán và hành vi kinh doanh hướng về sự chất lượng, sáng tạo, trách nhiệm và kết hợp hài hòa các lợi ích. Văn hóa tham gia vào mọi quá trình hoạt động của con người, thể hiện ngày càng rõ nét và tạo thành các lĩnh vực văn hóa đặc thù như: văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, văn hóa giao thông, văn hóa gia đình…và văn hóa kinh doanh.
Văn hóa kinh doanh có thể xem là chìa khóa mở ra sự thành công và phát triển nền kinh tế mỗi nước nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Cuộc sống cũng như công việc kinh doanh không ngừng vận động, chắc chắn sẽ còn nhiều chuẩn mực khác để đánh giá văn hóa kinh doanh nữa mà từ góc độ bản thân, mỗi cá thể sẽ bổ sung thêm khi ở vị trí một doanh nhân đang kinh doanh một cách có văn hóa. Trong kinh doanh, văn hóa tham gia hầu hết các hoạt động của doanh nghiệp, từ tổ chức đến các hoạt động chức năng của doanh nghiệp, cách bố trí nhân sự đến hình thành quan hệ giao tiếp ứng xử giữa các thành viên và các phương thức quản lý kinh doanh để tạo hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp. Nhìn từ góc độ nghệ thuật kinh doanh, từ vấn đề tạo vốn, tìm địa điểm kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, cách thức xây dựng chiến lược kinh doanh, tiếp thị sản phẩm, dịch vụ hậu mãi….