Luận Văn Thạc Sĩ: Vấn Đề Người Khuyết Tật Qua Sự Phản Ánh Của Báo Chí

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh vấn đề người khuyết tật qua sự phản ánh của báo chí hiện nay, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Chuyên ngành

Báo Chí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2008

133
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

0.7. Kết cấu

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ BÁO CHÍ

1.1. Tổng quan về vấn đề người khuyết tật

1.1.1. Người tàn tật hay khuyết tật

1.1.2. Các khái niệm liên quan tới người khuyết tật

1.1.3. Người khuyết tật trên thế giới

1.1.4. Người khuyết tật ở Việt Nam

1.1.5. Các chính sách xã hội liên quan tới vấn đề người khuyết tật

1.2. Báo chí và vấn đề người khuyết tật

1.2.1. Các căn cứ pháp luật về việc phản ánh vấn đề người khuyết tật

1.2.2. Nhiệm vụ của báo chí trong việc phản ánh về vấn đề người khuyết tật

2. CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT QUA SỰ PHẢN ÁNH CỦA BÁO CHÍ

2.1. Vấn đề người khuyết tật qua sự phản ánh chung của báo chí

2.1.1. Hệ thống báo chí Việt Nam hiện nay

2.1.2. Bức tranh chung về vấn đề người khuyết tật trên báo chí

2.1.2.1. Vấn đề người khuyết tật trên hệ thống báo viết
2.1.2.2. Vấn đề người khuyết tật trên hệ thống phát thanh
2.1.2.3. Vấn đề người khuyết tật trên hệ thống truyền hình
2.1.2.4. Vấn đề người khuyết tật trên hệ thống báo điện tử
2.1.2.5. Vấn đề người khuyết tật trên mạng lưới thông tấn xã Việt Nam

2.1.3. Các khía cạnh của vấn đề người khuyết tật được báo chí tập trung phản ánh

2.2. Khảo sát việc phản ánh của báo chí về vấn đề người khuyết tật trên 04 tờ báo Thanh Niên, Hà Nội Mới, Lao động và Xã hội và Tạp chí Người bảo trợ từ tháng 1/2007 đến tháng 7/2008

2.2.1. Giới thiệu khái quát về 04 tờ báo, tạp chí

2.2.2. Vấn đề người khuyết tật được 04 tờ báo, tạp chí tập trung

2.2.2.1. Báo chí phát hiện, phản ánh đời sống khó khăn của người khuyết tật và những hoàn cảnh cần giúp đỡ
2.2.2.2. Đăng tải chủ trương, chính sách của Nhà nước và giám sát việc thực hiện trong đời sống, xã hội
2.2.2.3. Tích cực cổ vũ, khích lệ những tấm gương vượt lên số phận, những cá nhân và tập thể hết lòng vì người khuyết tật

2.2.3. Kết quả khảo sát trên 04 tờ báo và tạp chí

2.2.3.1. Số lượng tác phẩm viết về người khuyết tật
2.2.3.2. Các mảng đề tài phản ánh
2.2.3.3. Các thể loại báo chí thường dùng
2.2.3.4. Vị trí tác phẩm liên quan tới vấn đề người khuyết tật trên mặt báo

2.2.4. Dư luận xã hội với việc phản ánh về vấn đề người khuyết tật trên báo chí

2.2.5. Bài học kinh nghiệm

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHẢN ÁNH VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN BÁO CHÍ

3.1. Nâng cao chất lượng phản ánh của báo chí về vấn đề người khuyết tật là điều tất yếu

3.2. Một số thuận lợi và khó khăn khi báo chí tiếp cận và phản ánh về vấn đề người khuyết tật

3.2.1. Về thuận lợi

3.2.2. Về khó khăn

3.3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng phản ánh vấn đề người khuyết tật trên báo chí

3.3.1. Các giải pháp với báo chí nói chung

3.3.2. Nhóm giải pháp dành cho các tạp chí chuyên phản ánh về vấn đề người khuyết tật

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Vấn Đề Người Khuyết Tật Qua Báo Chí Hiện Nay

Vấn đề người khuyết tật đã trở thành một chủ đề quan trọng trong xã hội hiện đại. Sự phát triển của báo chí đã giúp nâng cao nhận thức về quyền lợi và nhu cầu của người khuyết tật. Các phương tiện truyền thông đã đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh thực trạng và thách thức mà họ phải đối mặt. Thông qua các bài viết, phỏng vấn và báo cáo, báo chí đã góp phần tạo ra một cái nhìn tích cực hơn về người khuyết tật trong xã hội.

1.1. Định Nghĩa Và Phân Loại Người Khuyết Tật

Người khuyết tật được định nghĩa là những người có khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần, ảnh hưởng đến khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội. Phân loại người khuyết tật có thể dựa trên mức độ khuyết tật, từ nhẹ đến nặng, và các dạng khuyết tật khác nhau như khiếm thị, khiếm thính, và khuyết tật vận động.

1.2. Vai Trò Của Báo Chí Trong Việc Phản Ánh Vấn Đề Người Khuyết Tật

Báo chí không chỉ là kênh thông tin mà còn là cầu nối giữa người khuyết tật và xã hội. Các bài viết về chính sách hỗ trợ người khuyết tật và những câu chuyện thành công đã giúp nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng.

II. Thách Thức Trong Việc Phản Ánh Vấn Đề Người Khuyết Tật Qua Báo Chí

Mặc dù báo chí đã có những nỗ lực trong việc phản ánh vấn đề người khuyết tật, nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Thông tin thường thiếu tính đồng bộ và chưa đầy đủ, dẫn đến việc hiểu sai về người khuyết tật. Ngoài ra, sự phân biệt và định kiến vẫn tồn tại trong cách thể hiện thông tin.

2.1. Thiếu Tính Đồng Bộ Trong Thông Tin

Nhiều bài viết về người khuyết tật còn thiếu sự đồng bộ và nhất quán, dẫn đến việc người đọc khó có thể hình dung rõ ràng về thực trạng và nhu cầu của họ. Điều này cần được cải thiện để tạo ra một cái nhìn toàn diện hơn.

2.2. Định Kiến Và Phân Biệt Đối Xử

Định kiến xã hội về người khuyết tật vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng đến cách mà báo chí phản ánh vấn đề này. Cần có những biện pháp để thay đổi nhận thức và cách thể hiện thông tin về họ.

III. Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phản Ánh Vấn Đề Người Khuyết Tật

Để nâng cao chất lượng phản ánh về người khuyết tật, báo chí cần áp dụng các phương pháp mới. Việc đào tạo phóng viên về vấn đề này là rất cần thiết. Ngoài ra, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức xã hội và báo chí để cung cấp thông tin chính xác và đầy đủ.

3.1. Đào Tạo Phóng Viên Về Vấn Đề Người Khuyết Tật

Đào tạo phóng viên về các khía cạnh của người khuyết tật sẽ giúp họ có cái nhìn sâu sắc hơn và viết bài một cách chính xác hơn. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng thông tin trên báo chí.

3.2. Hợp Tác Giữa Các Tổ Chức Xã Hội Và Báo Chí

Sự hợp tác giữa các tổ chức xã hội và báo chí sẽ giúp cung cấp thông tin chính xác và kịp thời về người khuyết tật. Điều này không chỉ nâng cao nhận thức mà còn tạo ra những thay đổi tích cực trong xã hội.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Từ Các Nghiên Cứu Về Người Khuyết Tật

Các nghiên cứu về người khuyết tật đã chỉ ra rằng việc nâng cao nhận thức và cải thiện chính sách hỗ trợ là rất cần thiết. Những ứng dụng thực tiễn từ các nghiên cứu này có thể giúp cải thiện đời sống của người khuyết tật và tạo ra một xã hội hòa nhập hơn.

4.1. Cải Thiện Chính Sách Hỗ Trợ Người Khuyết Tật

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc cải thiện chính sách hỗ trợ cho người khuyết tật là rất cần thiết. Điều này bao gồm việc tăng cường các chương trình đào tạo nghề và tạo việc làm cho họ.

4.2. Tạo Ra Một Môi Trường Hòa Nhập

Việc tạo ra một môi trường hòa nhập cho người khuyết tật không chỉ là trách nhiệm của chính phủ mà còn của toàn xã hội. Các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức cần được triển khai rộng rãi.

V. Kết Luận Về Vấn Đề Người Khuyết Tật Qua Báo Chí

Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về người khuyết tật. Tuy nhiên, cần có những cải tiến trong cách phản ánh vấn đề này để tạo ra một cái nhìn tích cực và chính xác hơn. Tương lai của việc phản ánh vấn đề người khuyết tật trên báo chí cần được chú trọng hơn nữa.

5.1. Tương Lai Của Việc Phản Ánh Vấn Đề Người Khuyết Tật

Tương lai của việc phản ánh vấn đề người khuyết tật trên báo chí sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi trong nhận thức của xã hội. Cần có những nỗ lực liên tục để cải thiện chất lượng thông tin và tạo ra một môi trường hòa nhập.

5.2. Khuyến Khích Sự Tham Gia Của Cộng Đồng

Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc nâng cao nhận thức về người khuyết tật sẽ giúp tạo ra một xã hội hòa nhập hơn. Các chương trình truyền thông cần được triển khai để thu hút sự chú ý của công chúng.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh vấn đề người khuyết tật qua sự phản ánh của báo chí hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Lý luận chung về người khuyết tật và báo chí 1. Tổng quan về người khuyết tật 1.1 Người tàn tật hay người khuyết tật Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan điểm khoa học và tinh thần lạc quan đã động viên anh em thương binh hãy luôn là những người “tàn nhưng không phế”. Kể từ đó từ “tàn tật” đã trở thành một trong những từ dùng để tình trạng thương tật, mất mát một phần cơ thể của những người thương binh. Cùng với thời gian, từ “tàn tật” cũng đã được dùng để chỉ những người không may mắn do nhiều nguyên nhân như bị tai nạn, bẩm sinh dẫn đến các dị tật, khiếm khuyết về trí óc, cơ thể.

Khi nền kinh tế đất nước phát triển, vấn đề cải thiện, nâng cao đời sống cho nhiều đối tượng yếu thế trong xã hội được đặt ra để từng bước giải quyết. Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự chia sẻ, giúp đỡ của toàn xã hội, trong những năm vừa qua, những người khiếm khuyết về thể chất hay tinh thần cũng ngày được chăm lo, trợ giúp nhiều hơn. Đời sống của họ được cải thiện, nâng cao rõ rệt. Người tàn tật có nhiều cơ hội để khẳng định mình và hoà nhập với cộng đồng xã hội.

Bên cạnh đó, các chủ trương, Nghị quyết của Đảng cùng sự ra đời của hệ thống các văn bản Pháp luật như: Pháp lệnh về người tàn tật, các Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của các bộ cùng hoạt động của các tổ chức như Hội bảo trợ Người tàn tật và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trẻ mồ côi Việt Nam(ASVHO), Văn phòng Điều phối các hoạt động hỗ trợ Người tàn tật Việt Nam (NCCD), Hiệp Hội sản xuất kinh doanh của Người tàn tật Việt Nam (VABED) đã cho thấy cụm từ “người tàn tật” đã được sử dụng mang tính phổ quát khi đề cập tới những người bị khiếm khuyết, dị tật trong xã hội. Như vậy có thể thấy việc sử dụng khái niệm và từ ngữ “người tàn tật” đã có tính lịch sử. Bên cạnh tính lịch sử, việc sử dụng khái niệm và từ ngữ "người tàn tật" ở nước ta còn mang tính thực tế và tồn tại trong suốt hơn 50 năm qua. Trong hơn 5,3 triệu người tàn tật Việt Nam thì có rất nhiều dạng tật như: bại não, thiểu năng trí tuệ, khuyết tật vận động, khiếm thị, khiếm thính với mức độ nặng, nhẹ rất khác nhau, gây tổn thương, làm giảm khả năng như ăn, nói, di chuyển, hoặc tư duy không hoàn chỉnh.

cản trở họ trong việc tự chăm sóc bản thân và tham gia vào các hoạt động xã hội. Có thể chia thành hai cấp độ: Thứ nhất là các dạng khuyết tật dẫn đến suy giảm khả năng lao động 21% trở lên, không có điều kiện kinh tế. Những người thuộc cấp độ này rất cần sự giúp đỡ về vật chất, hỗ trợ về tinh thần để vươn lên hoà nhập với cộng đồng. Thứ hai là khuyết tật nhẹ và khuyết tật nặng có khả năng kinh tế.

Đối với người thuộc dạng này, họ không yêu cầu sự trợ giúp về vật chất mà rất cần được động viên tinh thần, có cơ chế chính sách ưu đãi để tiếp tục phát huy khả năng vốn có của mình. Trong điều kiện kinh tế của đất nước, mọi cơ chế, chính sách trợ cấp, trợ giúp mới tập trung chủ yếu hướng tới đối tượng là người thuộc các dạng tật nặng, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Chính vì vậy, khái niệm “người tàn tật” được dùng để chỉ đối tượng này đã trở nên quen thuộc, phổ biến. Tuy nhiên, cho dù mắc dạng tật nào, ở cấp độ nặng hay nhẹ, người bị khiếm khuyết về thể chất hay tinh thần tật cũng đều cần tiếp cận các hệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống dịch vụ công cộng, đặc biệt là nhận thức về sự hoà nhập của họ với cộng đồng và ngược lại.

Mặt khác trong bối cảnh hiện nay, khi thế giới quan tâm tới vấn đề tật bệnh với chương trình phát triển hơn là chương trình trợ giúp thì khái niệm và từ ngữ “người khuyết tật” cũng được đặt ra rõ ràng hơn. Ngày nay, khi việc tiếp cận của người tàn tật (chữ dùng trong các văn bản pháp luật hiện hành) đối với các công trình công cộng còn hạn chế, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, việc thực thi pháp luật đã có đối với người tàn tật cũng không đầy đủ, có những quy định chưa đi vào cuộc sống và đặc biệt nhận thức của xã hội đối với vấn đề tàn tật và người tàn tật còn khá thấp, thì các nhà xã hội học khuyên dùng khái niệm “người khuyết tật” để chỉ chung cho khái niệm “tàn tật” và “khuyết tật”. Từ ngữ “khuyết tật” hay “người khuyết tật” có nghĩa khiếm khuyết khả năng (thể chất hoặc tinh thần) của con người. Cũng có nghĩa, người khuyết tật hoàn toàn vẫn còn một khả năng tham gia hoạt động xã hội.

Từ “khuyết tật” cũng có nghĩa tích cực hơn từ “tàn tật”; bản thân người được gọi là khuyết tật cũng thấy vơi bớt sự mặc cảm, vươn lên một cách tích cực hơn; gọi là người khuyết tật thì xã hội nhìn nhận họ cũng thêm gần gũi, gắn bó hơn. Chính vì vậy, việc dùng khái niệm “khuyết tật” còn tạo niềm tin cho những người không may mắn, phá bỏ những rào cản trong xây dựng, giao thông, đồng thời phá bỏ những rào cản trong nhận thức của xã hội về người khuyết tật. Ngoài ra, theo Tổ chức Y tế thế giới, về bản chất, cụm từ “tàn tật” lại mang hàm ý chỉ hậu quả của xã hội, môi trường gây ra cho người khuyết tật. Mặt khác, khái niệm tàn tật tồn tại trong khái niệm khuyết tật.

Chính vì vậy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tháng 7 năm 2006, Hội thảo Khái niệm và từ ngữ về người tàn tật do Văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (NCCD) tổ chức, đã thống nhất cách gọi những người khiếm khiết về thể chất hay tinh thần là người khuyết tật. Điều này cho thấy, dùng từ khuyết tật hay người khuyết tật cũng là phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới trong việc đi tìm một khái niệm, từ ngữ để nói về những người bị khiếm khuyết, dị tật trong xã hội. Vì những lý do nói trên, xin được chọn từ “khuyết tật” hay “người khuyết tật” làm tên gọi thống nhất cho đối tượng được nói đến trong luận văn.2 Các khái niệm liên quan tới người khuyết tật Xã hội loài người phát triển, nền văn minh nhân loại được nâng lên cùng với sự tiến bộ về khoa học - kỹ thuật đã làm thay đổi về chất lượng cuộc sống của toàn nhân loại. Cũng từ đó, bức màn về người khuyết tật được vén lên và làm thay đổi một số quan niệm trước đây về người khuyết tật.

Các nhà tâm lý học, xã hội học, giáo dục học. đã nhìn thấy những khiếm khuyết của nền giáo lý cũ và họ đã chỉ ra rằng cần phải làm một cái gì đó để cách tân cái nhìn về đối tượng này. Họ cũng thống nhất cho rằng, việc cách tân này phải được bắt đầu từ việc thay đổi một cách triệt để nhận thức về “người khuyết tật” của toàn xã hội. Chính vì vậy, cộng đồng xã hội đã đưa ra những đánh giá, khái niệm cụ thể và sâu sắc hơn về người khuyết tật.

Trước tiên, các nhà xã hội, tâm lý, bác sĩ trên thế giới cùng chỉ ra rằng khuyết tật không phải là một trạng thái bất biến mà là biểu hiện sự tương tác giữa tình trạng sức khoẻ của một người với hoàn cảnh, môi trường mà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người đó đang sống. Kết quả của sự tương tác này cho thấy mức độ chức năng hay khuyết tật của người đó. Thứ hai, khuyết tật không chỉ là một trạng thái sức khoẻ đơn thuần về mặt y học mà nghiêng về việc phản ánh mối quan hệ phức tạp giữa các yếu tố quyết định khả năng của một người, sự thực hiện vai trò, chức năng đó với môi trường cơ học và xã hội mà người đó sinh hoạt. Tiếp đó, khuyết tật có thể được định nghĩa và đo lường theo nhiều cách cho nhiều mục đích khác nhau; ví dụ khi cung cấp phúc lợi xã hội hay xây dựng kế hoạch cung cấp các dịch vụ giáo dục hoà nhập sẽ liên quan tới các đối tượng khác nhau.

Tính đa dạng trong chức năng và tác động từ các rào cản môi trường (hay những điều kiện thuận lợi) là các yếu tố quyết định mức độ chức năng và khuyết tật của mỗi cá thể. Tuy nhiên, khuyết tật được đo lường và hiểu, lý giải trong quan niệm đầy đủ về chức năng và khuyết tật theo phân loại quốc tế về sức khoẻ, chức năng và khuyết tật (ICF), trong đó xem xét các yếu tố cá nhân và môi trường cũng như chức năng ở các mức độ khác nhau: cơ thể, cá nhân và xã hội. Phân loại quốc tế về khuyết tật Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã được Quốc tế công nhận năm 1980, thì người khuyết tật được phân theo 3 thể dạng sau: Tổn thương: Các cơ quan hoặc các chức năng của con người ở đây có thể xuất hiện trong sinh học - cơ thể, có dạng chi, chúng ta dễ dàng nhận biết và chuẩn đoán được về nguyên nhân gây ra và hậu quả của tàn tật để lại. Nhưng có dạng tổn thương trong cảm xúc - tư duy làm ta khó khăn hơn trong nhận biết, phân loại.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hạn chế: Các khả năng của con người bị hạn chế, xét theo nguyên tắc là do tổn thương gây nên được so sánh giữa người cùng tuổi bị tổn thương và người không bị tổn thương. Sự bất lợi: Sự khuyết tật của con người là quá trình tổng thể về “nguyên nhân và hậu quả”, nó tác động trực tiếp lên từng cá nhân và những hậu quả xã hội. Theo tài liệu của tổ chức CaRitas - Cộng hoà Liên bang Đức, dưới góc độ khoa học và xã hội học: “Những người khuyết tật là những người trong một chừng mực nhất định bị ảnh hưởng do hậu quả của một tổn thương chức năng về cơ thể, trí tuệ hoặc tâm lý gây ra, làm cho các chức năng sinh hoạt của bản thân họ hoặc một phần đời sống xã hội của họ gặp phải khó khăn, rắc rối ”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Phân Tích Vấn Đề Người Khuyết Tật Qua Báo Chí Hiện Nay" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà báo chí hiện nay phản ánh và phân tích các vấn đề liên quan đến người khuyết tật. Tài liệu nêu bật những thách thức mà người khuyết tật phải đối mặt trong xã hội, từ sự thiếu thốn về cơ hội việc làm đến sự phân biệt trong các lĩnh vực khác nhau. Bên cạnh đó, tài liệu cũng chỉ ra vai trò quan trọng của truyền thông trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng và thúc đẩy sự thay đổi tích cực đối với quyền lợi của người khuyết tật.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ bảo vệ quyền của người khuyết tật trong pháp luật lao động Việt Nam thực trạng và giải pháp 07. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật hiện hành và những giải pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật trong môi trường làm việc.

Việc tìm hiểu sâu hơn về các vấn đề này không chỉ giúp bạn nắm bắt thông tin mà còn góp phần nâng cao nhận thức và sự đồng cảm đối với người khuyết tật trong xã hội.