Chương 1: Giới thiệu. Trình bày lý do hình thành đề tài, mục tiêu cần đạt được nghiên cứu, những nội dung thực hiện trong quá trình nghiên cứu, phạm vi và giới hạn của đề tài, bố cục dự kiến của luận văn.KHO TIEU LUAN MOI download : 1skknchat123@gmail.KHO Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Giới thiệu những lý thuyết có liên quan và đưa ra phương pháp luận của nghiên cứu, trình bày những nghiên cứu liên quan đến đề tài. Chương 3: Phân tích nhu cầu.
Giới thiệu tổng quan về công ty và phân tích hiện trạng chưa hiệu quả trong việc quản lý nhà kho và vật tư, xác định nguyên nhân và đề xuất hướng giải pháp Chương 4: Thiết kế ý niệm. Dựa vào phân tích nhu cầu xác định Stakeholder của hệ thống. Phân tích khối chức năng vận hành hệ thống. Chương 5: Thiết kế sơ khởi.
Tổng hợp thông tin từ Functional Baseline, xây dựng sơ đồ luồng dữ liệu DFD mô tả sự trao đổi thông tin trong hệ thống và xây dựng mô hình Use case cho hệ thống. Chương 6: Thiết kế chi tiết Kết nối dữ liệu trong hệ thông thông tin để ứng dụng vào phần mềm máy tính. Thiết kế cơ sở dữ liệu và giao diện cho phần mềm hệ thống.KHO TIEU LUAN MOI download : 2skknchat123@gmail.KHO CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này sẽ liệt kê và nêu rõ các cơ sở lý thuyết và phương pháp luận được áp dụng cho luận văn.1 Khái niệm nhà kho, quản lý nhà kho và quản lý vật tư. Kho là loại hình cơ sở logistics được sử dụng cho việc lưu trữ, dự trữ, bảo quản hàng hóa hay vật tư của doanh nghiệp nhằm cung ứng hàng hóa/nguyên liệu cho khách hàng/cho hoạt động xây dựng, sản xuất một cách nhanh chóng và tiết kiệm chi phí nhất [8].2 Quản lý nhà kho.
Quản lý kho hàng hay kho vât tư chính là những hoạt động liên quan trực tiếp đến công tác tổ chức, bảo quán, quản lý số lượng hàng hóa vật tư, nhằm đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất, cung cấp, phân phối hàng hóa, vật tư kịp thời cũng như góp phần giảm chi phí lưu thông và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất của kho [8]. Quản lý vật tư là một chức năng chuỗi cung ứng cốt lõi và bao gồm lập kế hoạch chuỗi cung ứng và khả năng thực hiện chuỗi cung ứng. Cụ thể, quản lý vật tư là các công ty năng lực sử dụng để lập kế hoạch tổng yêu cầu vật liệu. Các yêu cầu vật liệu được truyền đạt để mua sắm và các chức năng khác để tìm nguồn cung ứng.
Quản lý vật tư cũng chịu trách nhiệm xác định lượng nguyên liệu sẽ được triển khai tại mỗi địa điểm trong chuỗi cung ứng, thiết lập kế hoạch bổ sung nguyên liệu, xác định mức tồn kho để giữ cho từng loại hàng tồn kho (thô, WIP, Thành phẩm) liên quan đến nhu cầu vật chất trong suốt chuỗi cung ứng mở rộng [9]. Các vai trò tiêu biểu trong quản lý vật tư bao gồm: quản lý vật liệu, quản lý kiểm soát hàng tồn kho, phân tích kho, hoạch định vật liệu, và các vai trò lai mới nổi như thu mua" [9].2 Khái niệm về hệ thống thông tin. Hệ thống: là một tập hợp các phần tử, có những mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau và cùng hoạt động hướng tới một mục đích chung bằng cách tiếp nhận đầu vào (input) và sản xuất đầu ra (output) thông qua một quá trình biến đổi có tổ chức [3]. Hệ thống thông tin: một hệ thống mà mục tiêu tồn tại của nó là cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động của con người trong tổ chức nào đó.
Hệ thống thông tin gồm 4 chức năng chính: nhận thông tin vào, lưu trữ, xử lý và đưa ra thông tin [3]. Hai thành phần cơ bản của hệ thống thông tin: Dữ liệu: Là các thông tin được lưu và duy trì dưới nhiều dạng: văn bản, truyền khẩu, hình vẽ,.và những vật mang tin: giấy, đĩa từ,. Các xử lý: Là quá trình biến đổi thông tin, nhằm vào hai mục đích chính:Thứ nhất là sản sinh các thông tin theo thể thức quy định chẳng hạn như chứng từ giao dịch (đơn mua hàng, hoá đơn.; Thứ hai là rợ giúp cho các quyết định, thông thường là cung cấp những thông tin cần thiết cho việc chọn lựa một quyết định của lãnh đạo [3]. Mối liên hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống thông tin được mô tả ở hình 2.KHO TIEU LUAN MOI download : 3skknchat123@gmail.1Các thành phần của thệ thống thông tin.1 Phân loại các thệ thống thông tin quản lý.
Do có những mục đích khác nhau, các đặc tính và các cấp quản lý khác nhau, nên có rất nhiều loại hệ thống thông tin tồn tại trong tổ chức. Ở đây ta quan tâm đến phân loại theo chức năng sẽ có một số loại sau.1 Hệ thống thông tin xử lý giao dịch (Transaction Processing System – TPS) Hệ thống xử lý giao dịch là một hệ thống thông tin nghiệp vụ. Nó phục vụ cho tổ chức ở mức vận hành. Nó thực hiện việc ghi nhận các giao dịch hàng ngày cần thiết cho hoạt động nghiệp vụ của tổ chức như giao dịch với khách hàng, nhà cung cấp, người cho vay vốn…[3].
Đây là hệ thống cung cấp nhiều dữ liệu nhất cho các hệ thống khác trong tổ chức. Ví dụ: Hệ thống in biên lai thanh toán cho khách hàng trong siêu thị, hệ thống máy rút tiền tự động ATM… 2.2 Hệ thống thông tin phục vụ quản lý (Management Information Sytstem – MIS) Là hệ thống nhằm cung cấp các thông tin cần thiết cho sự quản lý, điều hành của một doanh nghiệp hay một tổ chức, chủ yếu dựa vào một cơ sở dữ liệu chứa các thông tin phản ánh tình trạng hiện thời và hoạt động kinh doanh/ dịch vụ hiện thời của tổ chức. Nó sẽ thu thập các thông tin đến từ môi trường của doanh nghiệp, phối hợp với các thông tin có trong cơ sở dữ liệu để kết xuất các thông tin mà nhà quản lý cần, đồng thời thường xuyên cập nhật cơ sở dữ liệu để giữ cho các thông tin ở đó luôn phản ánh đúng thực trạng hiện thời của doanh nghiệp. Hệ thống quản lý nhân sự, hệ thống quản lý điểm…[3].3 Hệ thống thông tin hỗ trợ ra quyết định (Decision Support System – DSS) Là hệ thống xử lý và đưa ra các thông tin nhằm mục tiêu hỗ trợ các nhà quản lý trong quá trình đưa ra quyết định.
Trong một số trường hợp bản thân người quản lý phải dựa vào kinh nghiệm của mình để đưa ra quyết định [3].4 Hệ thống thông tin hỗ trợ điều hành. (Excecutive Support System – ESS) Hệ trợ giúp điều hành được sử dụng ở mức quản lý chiến lược của tổ chức. Nó được thiết kế hướng sự trợ giúp cho các quyết định không cấu trúc bằng việc làm ra các đồ thị phân tích LUAN.KHO TIEU LUAN MOI download : 4skknchat123@gmail.KHO trực quan và các giao dịch rất thuận tiện với môi trường. Hệ được thiết kế để cung cấp hay chắc lọc các thông tin đa dạng lấy từ môi trường hay từ các hệ thông tin quản lý, hệ trợ giúp quyết định…[3].5 Hệ thống chuyên gia (Expert System – ES) Là một hệ trợ giúp quyết định ở mức chuyên sâu.
Được xây dựng dựa trên những kết quả nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo, nhằm trang bị cho máy tính khả năng lập luận, tự học, tự hoàn thiện chính nó và phỏng theo các giác quan của con người [3]. Ngoài những kiến thức, kinh nghiệm của các chuyên gia, và các luật suy diễn nó còn có thể trang bị các thiết bị cảm nhận để thu các thông tin từ những nguồn khác nhau. Hệ có thể xử lý, và dựa vào các luật suy diễn để đưa ra các quyết định rất hữu ích và thiết thực. Ví dụ: hệ thống chẩn đoán bệnh cho người, cho xe máy… Sự khác biệt cơ bản của hệ chuyên gia với hệ hỗ trợ quyết định là ở chỗ: hệ chuyên gia yêu cầu những thông tin xác định đưa vào để đưa ra quyết định có chất lượng cao trong một lĩnh vực hẹp.6 Mối quan hệ giữa các hệ thống nói trên Hình 2.2 thể hiện mối quan hệ giữa các hệ thống phục vụ các cấp khác nhau trong doanh nghiệp.
TPS là nguồn dữ liệu chủ yếu cho các hệ thống khác trong khi ESS là nơi tiếp nhận dữ liệu từ những hệ thống thấp hơn. Các loại hệ thống còn lại cũng có thể trao đổi dữ liệu với nhau. Dữ liệu còn có thể được trao đổi giữa các hệ thống phục vụ những bộ phận chức năng khác nhau [3]. Ví dụ: một đơn đặt hàng lưu ở hệ thống bán hàng có thể được chuyển tới hệ thống sản xuất trở thành một giao dịch cho việc sản xuất hoặc tới một MIS cho việc báo cáo tài chính.2 Mối quan hệ giữa các cấp hệ thống thông tin quản lý 2.3 Phương pháp mô hình hóa hệ thống thông tin: phương pháp phân tích và thiết kế có cấu trúc (Structured Analysis and Design Technique – SADT).
Mô hình là một dạng trừu tượng hóa của hệ thống thực. Nói rõ hơn, mô hình là một hình ảnh (một biểu diễn) của một hệ thống thực được diễn tả ở mức độ trừu tượng hóa nào đó. Ngày nay, mô hình dạng biểu đồ (diagrams) là dạng mô hình phổ biến với các biểu đồ đều là những đồ thị, trong đó các nút và các cung được vẽ theo các dạng riêng biệt và mang các ý nghĩa riêng biệt, tùy theo yêu cầu diễn giải chúng. Thường người ta phân biệt 2 mức độ chính : LUAN.KHO TIEU LUAN MOI download : 5skknchat123@gmail.KHO Mức logic: tập trung mô tả bản chất và mục đích hoạt động của hệ thống mà bỏ qua các yếu tố về tổ chức thực hiện, về biện pháp cài đặt.
Mức logic trả lời câu hỏi: “Làm gì?”, bỏ qua “Làm như thế nào?” [4]. Mức vật lý: Trả lời câu hỏi: “Làm như thế nào ?” Quan tâm đến các mặt: phương pháp, biện pháp, công cụ, tác nhân, địa điểm, thời gian, hiệu năng… [4]. Chính vì có sự phân biệt hai mức độ mô hình hoá (logic và vật lý) như trên mà mọi quá trình phát triển hệ thống, dù theo chu trình sống nào, cũng đều phải bao gồm hai giai đoạn trung tâm và phân biệt, là phân tích và thiết kế. Có thể tóm tắt sự thay đổi mức diễn tả vật lý/ logic trong hình 2.3, trong đó các bước chuyển đổi (1) và (2) thuộc giai đoạn phân tích, bước chuyển đổi (3) thuộc giai đoạn thiết kế.3Các bước mô hình hóa hệ thống thông tin theo hướng cấu trúc 2.1 Phương pháp phân tích và thiết kế có cấu trúc (Douglas T.