Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ với tiêu đề "Mô hình chuỗi thời gian phi tuyến (STAR) trong phân tích và dự báo các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Minh Hải thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Khắc Minh và PGS. Ngô Văn Thứ, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, tháng 4 năm 2014). Công trình thuộc lĩnh vực toán kinh tế ứng dụng và kinh tế lượng thực nghiệm, tập trung nghiên cứu hành vi phi tuyến của các biến số vĩ mô.
Về tính cấp thiết, phân tích và dự báo động thái của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giữ vai trò trọng yếu trong việc hỗ trợ điều hành chính sách và ổn định nền kinh tế, đặc biệt đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam – nơi có nền kinh tế mở quy mô nhỏ và chịu nhiều tổn hại trước các biến động bất lợi từ môi trường quốc tế. Trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước xuất hiện ngày càng nhiều yếu tố bất ổn, việc xây dựng công cụ định lượng chuẩn xác giúp giảm thiểu rủi ro, phòng tránh nguy cơ đổ vỡ kinh tế.
Về khoảng trống nghiên cứu, lý thuyết kinh tế truyền thống khi xây dựng mô hình kinh tế lượng thường áp đặt giả thiết các hệ số bất biến theo thời gian. Tuy nhiên, từ cuối thập niên 1990 trở lại đây, sự phát triển của hệ thống tài chính, sự thay đổi cấu trúc thành tố tiền tệ, điều chỉnh thể chế, cùng các cú sốc như biến động giá dầu mỏ, lương thực và can thiệp chính sách mạnh về lãi suất, cung tiền, tỷ giá hay khối lượng tín dụng đã dẫn tới sự xuất hiện của các mối quan hệ phi tuyến trong các chuỗi thời gian vĩ mô. Trước đây, các nhà kinh tế thường xử lý hiện tượng phi tuyến bằng phương pháp xấp xỉ tuyến tính, song cách tiếp cận này chỉ giải quyết được một số trường hợp cục bộ mà không triệt để. Tại Việt Nam, việc áp dụng mô hình tuyến tính truyền thống gặp nhiều trở ngại do dữ liệu thống kê phức tạp vượt quá năng lực thu thập, nguồn dữ liệu quốc tế rời rạc; đồng thời các yếu tố thể chế và tính mở cửa thị trường khiến việc dùng biến giả trong mô hình tuyến tính dễ mang lại kết quả ước lượng sai lệch. Phần lớn các công trình nghiên cứu vĩ mô trong nước về lạm phát và cầu tiền vẫn dựa trên cách tiếp cận hồi quy tuyến tính, rất hiếm công trình ứng dụng có hệ thống lớp mô hình chuỗi thời gian phi tuyến.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được tác giả xác định và đánh số gồm 5 nội dung:
- Tổng hợp cơ sở lý thuyết về mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn. Trên cơ sở đó, luận án tổng quan tình hình nghiên cứu thực nghiệm về lạm phát và cầu tiền bằng mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn ở các nước trên thế giới, từ đây rút ra kinh nghiệm nghiên cứu về lạm phát và cầu tiền ở Việt Nam;
- Phân tích thực trạng diễn biến lạm phát, vai trò điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn 2000-2011;
- Xây dựng mô hình đường Phillips phi tuyến phân tích lạm phát theo cách tiếp cận hồi quy chuyển tiếp trơn;
- Xây dựng mô hình hàm cầu tiền phi tuyến xác định ngưỡng lạm phát theo tiếp cận hồi quy chuyển tiếp trơn;
- Đưa ra một số khuyến nghị dựa trên cơ sở các kết quả ước lượng được.
Đối tượng nghiên cứu của luận án:
- Đối với lạm phát: Phân tích các biến động về lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2000-2011 và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát trong giai đoạn này.
- Đối với cầu tiền: Phân tích vai trò của chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát, hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ tại Việt Nam giai đoạn 2000-2011, cùng cơ chế lan truyền của chính sách tiền tệ đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Nền kinh tế Việt Nam.
- Thời gian: Giai đoạn thu thập số liệu chuỗi thời gian thực nghiệm từ năm 2000 đến năm 2011; thực hiện các dự báo lạm phát cho các năm 2012 và 2013.
- Nội dung học thuật: Tập trung nghiên cứu lý thuyết họ mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR) và mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn (STAR), vận dụng quy trình mô hình hóa vào hai chỉ tiêu vĩ mô trọng điểm là lạm phát và cầu tiền.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án thực hiện tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến mô hình chuyển tiếp trơn, các phân tích thực nghiệm về lạm phát và hàm cầu tiền:
Về nghiên cứu lạm phát trên thế giới:
- Teräsvirta (1994) phân tích các vi phạm về tính bất biến của hệ số trong mô hình kinh tế lượng tuyến tính.
- Dolado, Ramon và Naveira phân tích tác động của đường cong Phillips phi tuyến nhằm tìm kiếm quy tắc chính sách tiền tệ tối ưu cho Đức, Pháp, Tây Ban Nha và Mỹ, chứng minh quy tắc chính sách tiền tệ tối ưu mang tính phi tuyến và có sự phi tuyến trong hoạt động điều hành lãi suất ngắn hạn của các ngân hàng trung ương châu Âu.
- Qaiser Munir, Kasim Mansur và Fumitaka Furuoka nghiên cứu quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng tại Malaysia giai đoạn 1970-2005 bằng mô hình tự hồi quy ngưỡng (TAR), xác định ngưỡng lạm phát là 3,89%.
- Schaling mở rộng nghiên cứu của Svensson (1997) về lạm phát mục tiêu tại châu Âu, mô tả lạm phát mục tiêu bằng đường cong lồi Phillips và chỉ ra độ lệch dương của tổng cầu từ sản lượng tiềm năng gây lạm phát cao hơn tác động chống lạm phát của độ lệch âm.
- Mayes và Viren nghiên cứu dữ liệu EU và OECD giai đoạn 1987-2001, ghi nhận tính chất phi tuyến và bất đối xứng của đường cong Phillips và Luật Okun.
- Huh nghiên cứu tại Úc bằng mô hình tự hồi quy vector (VAR) kết hợp chỉ định tự hồi quy chuyển tiếp trơn logistic (LSTAR), phát hiện chi phí sản lượng để giảm lạm phát có tính bất đối xứng.
- Böhm áp dụng mô hình STAR cho phương trình lạm phát tại Áo, ghi nhận biến động tỷ lệ thất nghiệp có tác động lớn hơn đến lạm phát trong thời kỳ giá cả tăng cao.
- Kavkler và Böhm phân tích hệ thống tiền tệ gắn với đường cong Phillips và Luật Okun tại Đức bằng hồi quy chuyển tiếp trơn, làm rõ các phản ứng chính sách bất đối xứng trước các cú sốc cấu trúc như thống nhất nước Đức và khủng hoảng dầu mỏ.
- Gregoriou kiểm định hành vi phi tuyến của khoảng chênh lạm phát so với mục tiêu tại 5 quốc gia OECD trong thập niên 1990 bằng mô hình chuyển tiếp trơn mũ (ESTAR). Tốc độ điều chỉnh về mục tiêu được ước lượng với hệ số chuyển tiếp $c$ cụ thể: Vương quốc Anh đạt $c = 0,435$, Úc đạt $c = 0,427$, New Zealand đạt $c = 0,401$, Thụy Điển đạt $c = 0,256$, và Canada đạt $c = 0,242$.
Về nghiên cứu lạm phát tại Việt Nam:
- Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự tổng hợp các nghiên cứu trước đó và chỉ rõ các hạn chế: phần lớn công trình chỉ lấy giá dầu hoặc giá gạo thế giới đại diện cho phía cung; dữ liệu kết thúc ở năm 2008 nên không bao quát giai đoạn biến động mạnh sau khủng hoảng tài chính; kết quả về vai trò của tiền tệ còn mâu thuẫn. Nhóm tác giả đã sử dụng mô hình VECM mở rộng 3 kênh (ngang giá sức mua - PPP, tổng cầu - AD, tổng cung - AS), chứng minh quán tính lạm phát của Việt Nam ở mức cao và mức chuyển tỷ giá sang lạm phát là đáng kể trong ngắn hạn.
- Đặng Huyền Linh thiết lập đường cong Phillips dạng sai phân logarit cho chuỗi số liệu 1990-2011:
$$\text{dlog}(\text{infla}) = 0,031 + 1,169 \cdot \text{dlog}(ur) + 0,348 \cdot \text{dlog}(\text{infla}_{-1}) + 0,126 \cdot \text{dlog}(pm$ \cdot er) + 0,117 \cdot d2008 + 0,094 \cdot d2011$$
- Vương Thị Thảo Bình ước lượng phương trình lạm phát theo đường Phillips mở rộng giai đoạn 2000-2011:
$$g_cpi = 0,065 + 1,035 \cdot g_cpi_{-1} - 0,675 \cdot g_cpi_{-2} + 0,2926 \cdot g_cpi_{-3} + 0,097 \cdot gap_{-1} + 0,075 \cdot (d1 \cdot CAUDN) + 0,0416 \cdot g_oil$$
Kết quả cho thấy tâm lý, kỳ vọng là nhân tố tác động mạnh nhất đến lạm phát, kế đến là áp lực cầu kéo, trong khi tác động của giá dầu ở mức thấp hơn.
- Phạm Thị Thu Trang sử dụng mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn logistic (LSTR1) giai đoạn 2000-2009 với 4 nhóm yếu tố (tiền tệ, cung, cầu, kỳ vọng), kết luận yếu tố tiền tệ tác động mạnh nhất đến lạm phát.
- Nghiên cứu của nhóm tác giả (tài liệu [10]) áp dụng mô hình LSTAR cho lạm phát Việt Nam, bác bỏ giả thuyết tuyến tính và xác định dư cung tiền cùng tỷ giá có tác động lớn đến lạm phát.
- Nguyễn Khắc Minh, Nguyễn Minh Hải và Phan Tất Hiển tổng kết kinh nghiệm mô hình hóa ESTAR khoảng chênh lạm phát mục tiêu của 5 nước OECD, đề xuất bài học điều hành lạm phát mục tiêu linh hoạt cho Việt Nam.
Về nghiên cứu cầu tiền trên thế giới và tại Việt Nam:
- Huang, Lin, Cheng (2001) nghiên cứu cầu tiền Đài Loan giai đoạn 1962-1996, chỉ ra sự can thiệp của chính phủ vào lãi suất và CPI tạo nên mối quan hệ phi tuyến, thay đổi nhanh hơn trong pha suy thoái.
- Choi và Saikkonen (2004) xác định cầu tiền nhạy cảm hơn với lãi suất khi lãi suất ở mức cao do chi phí cơ hội nắm giữ tiền gia tăng.
- Youngsoo Bae, Vikas Kakkar và Masao Ogaki (2006) khẳng định dạng hàm cầu tiền dài hạn phi tuyến mô tả dữ liệu Nhật Bản tốt hơn dạng tuyến tính.
- Chen và Wu (2005) áp dụng mô hình ESTAR cho cầu tiền Mỹ và Anh giai đoạn 1961-1997, chỉ rõ kiểm định đồng tích hợp tuyến tính không phù hợp khi tồn tại chi phí giao dịch.
- Sarno, Taylor và Peel (2003) dùng mô hình cân bằng hiệu chỉnh phi tuyến (Nonlinear CEM dạng ESTAR) chứng minh hàm cầu tiền của Mỹ ổn định suốt giai đoạn 1869-1997.
- Lütkepohl và cộng sự phân tích cầu tiền M1 tại Đức giai đoạn 1962-1995, cho thấy biến động mùa vụ bị phá vỡ sau sự kiện thống nhất tiền tệ năm 1990 và dạng hàm STR mô tả dữ liệu tốt hơn mô hình tuyến tính.
- Darran Austin và Bert Ward nghiên cứu cầu tiền Trung Quốc giai đoạn 1987-2004, xác định hàm cầu tiền ổn định khi lạm phát duy trì dưới ngưỡng 5,37%.
- Tại Việt Nam: Võ Trí Thành và Suiwah Leung (1996) nghiên cứu cầu tiền M1 giai đoạn 1977-1991 bằng mô hình hiệu chỉnh từng phần (PAM); Đặng Trí Trung (2002) dùng PAM ước lượng M1 giai đoạn 1991-2002 nhưng thu được hệ số sản lượng công nghiệp quá nhỏ ($0,066$), chưa phản ánh sát thực tiễn chuyển đổi kinh tế; Hà Quỳnh Hoa (2008) ứng dụng mô hình VECM ước lượng M1 (1994M7-2006M12) và M2 (2000M6-2006M12); Nguyễn Phi Lân (2010) dùng VECM phân tích hàm cầu tiền M2 mở rộng giai đoạn 1999-2010; Bùi Duy Phú áp dụng mô hình LSTR1 phân tích cầu tiền M1 giai đoạn 2000Q1-2010Q4 và khuyến nghị duy trì chênh lệch lạm phát giữa các tháng dưới mức 1,014%.
Về các ứng dụng phi tuyến khác:
- Skalin và Teräsvirta (1999) dùng ESTAR phân tích chu kỳ kinh doanh Thụy Điển 1870-1988; Hall và cộng sự (2001) dùng LSTAR dự báo hiện tượng El Nino từ số liệu 1876-1998; Forster và cộng sự (2007) áp dụng LSTAR cho các nước Trung và Đông Âu; Ralf Bruggemann và Jana Riedel (2011) mô hình hóa lãi suất ngắn hạn tại Anh.
- Nguyễn Khắc Minh, Nguyễn Mạnh Hùng và Nguyễn Việt Hùng ước lượng mô hình LSTR1 cho tăng trưởng GDP 3 khu vực tại Việt Nam giai đoạn 1985-2006 ($T = 22$):
- Công nghiệp: $\text{LnGDPCN} = 11,02 + 0,028t - (0,092 - 0,0084t) \left[1 + \exp\left{-(7,76/\hat{\sigma}_t)(t - 0,445)\right}\right]^{-1}$, với $\hat{\sigma} = 0,0135, R^2 = 0,9968$;
- Dịch vụ: $\text{LnGDPDV} = 11,52 + 0,043t - (0,065 - 0,024t) \left[1 + \exp\left{-(6,18/\hat{\sigma}_t)(t - 0,374)\right}\right]^{-1}$, với $\hat{\sigma} = 0,0131, R^2 = 0,9935$;
- Nông nghiệp: $\text{LnGDPNN} = 10,61 + 0,0065t - (-0,2005 - 0,0337t) \left[1 + \exp\left{-(168,51/\hat{\sigma}_t)(t - 0,318)\right}\right]^{-1}$, với $\hat{\sigma} = 0,0069, R^2 = 0,9932$.
Khoảng trống luận án giải quyết: Hầu hết các công trình nghiên cứu kinh tế lượng tại Việt Nam trước năm 2012 dừng lại ở việc áp dụng mô hình tuyến tính hoặc các mô hình đồng tích hợp tuyến tính (VECM, PAM), vốn bỏ qua tính bất đối xứng và các điểm gãy cấu trúc khi nền kinh tế chuyển dịch thể chế. Các nghiên cứu phi tuyến hiếm hoi trước đó chỉ khảo sát phạm vi hẹp (như khối lượng tiền M1 thay vì tổng phương tiện thanh toán M2, hoặc chuỗi số liệu kết thúc sớm trước năm 2010). Luận án định vị là công trình vận dụng toàn diện quy trình kiểm định, chỉ định và ước lượng họ mô hình STR/STAR để giải quyết đồng thời hai bài toán vĩ mô then chốt của Việt Nam giai đoạn 2000-2011: ước lượng đường Phillips phi tuyến nhằm phân tích và dự báo lạm phát, đồng thời xây dựng hàm cầu tiền phi tuyến để xác định ngưỡng lạm phát tối ưu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn
Mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR) do Bacon và Watts (1971) đề xuất dựa trên mô hình hồi quy hoán chuyển của Quandt (1958), sau đó được Granger và Teräsvirta (1996), Teräsvirta (1998, 2004) hoàn thiện. Dạng chuẩn tổng quát của mô hình STR được biểu diễn như sau:
$$y_t = \pi' x_t + \theta' x_t G(\gamma, c, s_t) + u_t, \quad t = 1, 2, \dots, T$$
hoặc viết dưới dạng hệ số biến đổi theo thời gian:
$$y_t = {\pi + \theta G(\gamma, c, s_t)}' x_t + u_t$$
Trong đó:
- $x_t = (z_t', w_t')'$ là vector các biến giải thích gồm trễ của biến nội sinh $z_t' = (1, y_{t-1}, \dots, y_{t-p})'$ và vector các biến ngoại sinh $w_t' = (w_{1t}, \dots, w_{kt})'$;
- $\pi = (\pi_0, \pi_1, \dots, \pi_m)'$ và $\theta = (\theta_0, \theta_1, \dots, \theta_m)'$ là các vector tham số kích thước $((m+1) \times 1)$ với $m = p + k$;
- $u_t$ là sai số ngẫu nhiên có phân phối chuẩn độc lập đồng nhất;
- $G(\gamma, c, s_t)$ là hàm chuyển tiếp trơn liên tục, nhận giá trị bị chặn trong đoạn $[0, 1]$, phụ thuộc vào biến chuyển tiếp $s_t$, tham số độ dốc $\gamma > 0$ (chỉ tốc độ chuyển tiếp) và vector tham số vị trí $c = (c_1, \dots, c_K)'$ với $c_1 \le \dots \le c_K$ (chỉ ngưỡng diễn ra quá trình chuyển tiếp).
Các dạng hàm chuyển tiếp trơn cụ thể:
- Hàm logistic tổng quát (LSTR):
$$G(\gamma, c, s_t) = \left[ 1 + \exp\left{ -\gamma \prod_{k=1}^K (s_t - c_k) \right} \right]^{-1}, \quad \gamma > 0, \quad c_1 \le \dots \le c_K$$
- Khi $K = 1$ (mô hình LSTR1): Hàm chuyển tiếp đơn điệu tăng từ 0 đến 1 theo $s_t$. Tại $s_t = c$, $G = 0,5$. LSTR1 thích hợp mô hình hóa hành vi bất đối xứng giữa hai trạng thái (chẳng hạn suy thoái và tăng trưởng).
- Khi $K = 2$ (mô hình LSTR2): Hàm chuyển tiếp đối xứng qua điểm giữa $(c_1 + c_2)/2$, tại đó $G$ đạt cực tiểu (giá trị cực tiểu nằm giữa 0 và 0,5). LSTR2 thích hợp khi động thái của chuỗi tương đồng ở cả hai giá trị rất cao và rất thấp của $s_t$, nhưng khác biệt ở khoảng giá trị trung bình.
- Hàm mũ (ESTR):
$$G_E(\gamma, c, s_t) = 1 - \exp\left{ -\gamma (s_t - c_1^)^2 \right}, \quad \gamma > 0$$
Hàm $G_E$ nhận giá trị bằng 0 tại $s_t = c_1^$ và tiến tới 1 khi $s_t$ rời xa $c_1^*$.
- Mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn đơn biến (STAR):
Xuất hiện khi vector $x_t$ không chứa biến ngoại sinh $w_t$ mà chỉ gồm các trễ của biến phụ thuộc $x_t = (1, y_{t-1}, \dots, y_{t-p})'$ và biến chuyển tiếp là trễ của chính nó $s_t = y_{t-d}$ ($1 \le d \le p$). Tùy theo dạng hàm chuyển tiếp, ta có mô hình LSTAR1, LSTAR2 hoặc ESTAR.
Bảng tổng hợp hành vi của biến trễ chuyển tiếp $y_{t-d}$ trong các mô hình:
| Dạng mô hình |
Trạng thái của biến chuyển tiếp $y_{t-d}$ |
Giá trị hàm $G$ |
Dạng phương trình tương ứng |
| LSTAR |
$y_{t-d} \to -\infty$ |
$G \to 0$ |
$y_t = \pi_0 + \pi_1 y_{t-1} + \dots + \pi_p y_{t-p} + u_t$ |
|
$y_{t-d} \to +\infty$ |
$G \to 1$ |
$y_t = (\pi_0 + \theta_0) + (\pi_1 + \theta_1) y_{t-1} + \dots + u_t$ |
| ESTAR |
$y_{t-d} \to c$ |
$G \to 0$ |
$y_t = \pi_0 + \pi_1 y_{t-1} + \dots + \pi_p y_{t-p} + u_t$ |
|
$y_{t-d}$ rời xa $c$ |
$G \to 1$ |
$y_t = (\pi_0 + \theta_0) + (\pi_1 + \theta_1) y_{t-1} + \dots + u_t$ |
Quy trình mô hình hóa LSTR
Quy trình mô hình hóa LSTR gồm ba bước cơ bản:
- Thiết lập mô hình:
- Xuất phát từ mô hình tuyến tính tối ưu, thực hiện kiểm định tính phi tuyến theo Luukkonen (1988a) bằng cách thay thế hàm chuyển tiếp bằng khai triển Taylor bậc 3 quanh $\gamma = 0$:
$$y_t = \beta_0' x_t + \beta_1' x_t s_t + \beta_2' x_t s_t^2 + \beta_3' x_t s_t^3 + u_t^*$$
- Kiểm định giả thuyết không $H_0'': \beta_1 = \beta_2 = \beta_3 = 0$. Luukkonen đề xuất dùng thống kê kiểm định $F$ thay cho kiểm định nhân tử Lagrange (LM-test) để tránh hiện tượng sai chệch khi cỡ mẫu nhỏ hoặc trung bình:
$$F_{qs} = \frac{(SSR_0 - SSR_1) / [3(m + 1)]}{SSR_1 / [T - 4(m + 1)]} \sim F(3(m + 1), T - 4(m + 1))$$
- Lựa chọn giữa LSTR1 và LSTR2 theo trình tự kiểm định của Teräsvirta (2004) dựa trên ba cặp giả thuyết: $H_{04}: \beta_3 = 0$ (thống kê $F_4$); $H_{03}: \beta_2 = 0 \mid \beta_3 = 0$ (thống kê $F_3$); và $H_{02}: \beta_1 = 0 \mid \beta_2 = \beta_3 = 0$ (thống kê $F_2$). Nếu $H_{03}$ bị bác bỏ mạnh nhất (dựa trên $p$-value nhỏ nhất), mô hình được lựa chọn là LSTR2 (hoặc ESTR); trong các trường hợp còn lại, lựa chọn LSTR1.
- Ước lượng tham số:
- Áp dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất phi tuyến (NLS) để tìm vector tham số $\Phi = (\pi', \theta', \gamma, c)'$ tối thiểu hóa tổng bình phương phần dư $Q_T(\Phi) = \sum_{t=1}^T [y_t - F(x_t, \Phi)]^2$.
- Sử dụng thuật toán Leybourne (1998) để tìm giá trị ban đầu cho $\gamma$ và $c$ thông qua lưới tìm kiếm; khi $\gamma$ và $c$ cố định, mô hình trở thành tuyến tính và các tham số $\pi, \theta$ được ước lượng bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS).
- Tiến hành kiểm định thu hẹp mô hình bằng cách đặt các ràng buộc tham số ($\pi_j = \theta_j = 0$, hoặc $\pi_j = 0$, $\pi_j = -\theta_j$, $\theta_j = 0$) để loại dần các biến không có ý nghĩa thống kê.
- Đánh giá chất lượng mô hình:
- Kiểm định không có tự tương quan chuỗi của phần dư dựa trên bổ đề Godfrey với thống kê $F_{LM}$ thông qua hồi quy phụ của phần dư $\hat{u}_t$ theo các trễ của nó và các đạo hàm riêng.
- Kiểm định không có thành phần phi tuyến bị bỏ sót bằng cách mở rộng mô hình với hàm chuyển tiếp thứ hai $H(\gamma_2, c_2, s_{2t})$, khai triển Taylor bậc 3 quanh $\gamma_2 = 0$ và thực hiện kiểm định giả thuyết hệ số bằng 0 thông qua thống kê $F$.
Dữ liệu và công cụ phân tích
- Nguồn tư liệu: Dữ liệu vĩ mô được thu thập từ Tổng cục Thống kê (GSO), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
- Xử lý dữ liệu: Toàn bộ chuỗi số liệu định lượng (GDP, CPI, M2, giá dầu thế giới...) được tác giả chuyển đổi và điều chỉnh về cùng một gốc so sánh là năm 1994 nhằm đảm bảo tính nhất quán giữa các chuỗi dữ liệu trong quá trình ước lượng.
- Công cụ phần mềm: Phần mềm EViews 7.0 và JMulTi.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn trong phân tích kinh tế vĩ mô
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết toán học của họ mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR), phân loại chi tiết các dạng mô hình:
- Mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn logistic tổng quát (LSTR) với hai dạng chính là LSTR1 ($K = 1$) và LSTR2 ($K = 2$).
- Mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn mũ (ESTR) và các mô hình tự hồi quy đơn biến tương ứng (STAR, LSTAR1, LSTAR2, ESTAR).
- Quy trình mô hình hóa 3 giai đoạn của LSTR: thiết lập mô hình (kiểm định phi tuyến Luukkonen, kiểm định lựa chọn cấu trúc Teräsvirta); ước lượng tham số (phương pháp NLS, thuật toán tìm giá trị khởi tạo Leybourne, kỹ thuật thu hẹp tham số); và kiểm định chẩn đoán khuyết tật mô hình (kiểm định tự tương quan Godfrey, kiểm định thành phần phi tuyến bị bỏ sót).
- Khảo cứu toàn diện các nghiên cứu ứng dụng mô hình chuyển tiếp trơn trên thế giới và tại Việt Nam trong các lĩnh vực lạm phát, cầu tiền và các biến số kinh tế vĩ mô khác (tăng trưởng sản lượng, chu kỳ kinh doanh, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất).
Chương 2: Phân tích diễn biến lạm phát, vai trò chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát ở Việt Nam
Chương 2 tập trung phân tích thực trạng diễn biến kinh tế vĩ mô của Việt Nam giai đoạn 2000-2011:
- Diễn biến lạm phát được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn 2000-2006 (lạm phát duy trì ở mức tương đối thấp và ổn định) và giai đoạn 2007-2011 (lạm phát biến động phức tạp, tăng vọt vào năm 2008 và năm 2011).
- Phân tích mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát theo số liệu quý từ quý I/2000 đến quý IV/2011 (và mở rộng quan sát đến quý IV/2012).
- Đánh giá vai trò và cơ chế truyền tải của chính sách tiền tệ (CSTT) do Ngân hàng Nhà nước điều hành; so sánh mục tiêu đặt ra và kết quả thực hiện thực tế của CSTT trong hai thời kỳ 2001-2006 và 2007-2011.
- Phân tích các kênh truyền dẫn chính tác động đến lạm phát Việt Nam giai đoạn 2000-2011, bao gồm:
- Nhân tố tâm lý và lạm phát kỳ vọng;
- Mối quan hệ giữa sản lượng thực tế, sản lượng tiềm năng và khoảng chênh sản lượng (GAP) đối với chỉ số CPI;
- Ảnh hưởng của các cú sốc bên ngoài thông qua biến động giá dầu thế giới;
- Tác động từ sự gia tăng của khối tiền tệ, biểu hiện qua mức tăng trưởng M2, tín dụng cho nền kinh tế và vốn huy động so với GDP.
Chương 3: Xây dựng các mô hình chuỗi thời gian phi tuyến cho phân tích lạm phát, cầu tiền ở Việt Nam giai đoạn 2000-2011
Chương 3 là phần thực nghiệm cốt lõi của luận án, tập trung vào hai nội dung mô hình hóa:
- Xây dựng mô hình đường Phillips phi tuyến phân tích lạm phát:
- Kiểm định tính dừng và nghiệm đơn vị của các chuỗi số liệu; lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình.
- Thực hiện kiểm định tính tuyến tính dựa trên chỉ định của STR; xác định biến chuyển tiếp thích hợp là độ lệch sản lượng trễ $GAP_{t-1}$.
- Ước lượng mô hình hai cơ chế LSTR1 cho lạm phát (dlnCPI), xác định giá trị ngưỡng chuyển tiếp và tốc độ chuyển tiếp $\gamma$.
- Kiểm định chẩn đoán mô hình và tiến hành dự báo lạm phát: thực hiện dự báo lạm phát dlnCPI cho năm 2011 để so sánh với số liệu thực tế nhằm đánh giá độ tin cậy; sau đó thực hiện dự báo tốc độ tăng lạm phát cho các năm 2012 và 2013.
- Xây dựng hàm cầu tiền phi tuyến xác định ngưỡng lạm phát:
- Thống kê mô tả và kiểm định nghiệm đơn vị các biến số trong hàm cầu tiền thực tế.
- Tiến hành kiểm định lồng nhau để lựa chọn biến lạm phát đại diện thích hợp.
- Thực hiện kiểm định chỉ định hàm cầu tiền theo tiêu chuẩn mô hình STR.
- Ước lượng các tham số của hàm cầu tiền phi tuyến dạng chuyển tiếp trơn, từ đó xác định ngưỡng lạm phát mà tại đó hàm cầu tiền có sự thay đổi hành vi cấu trúc; phân tích các hệ số co giãn ở phần tuyến tính và phần phi tuyến.
Kết quả và những đóng góp mới
Theo các công bố và phần tổng kết của luận án, công trình mang lại các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
Về lý luận và phương pháp:
- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết toán học và quy trình mô hình hóa của họ mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR/STAR), bao gồm kỹ thuật kiểm định phi tuyến dựa trên khai triển Taylor bậc 3 của Luukkonen, quy tắc lựa chọn dạng hàm của Teräsvirta và thuật toán tìm giá trị khởi tạo NLS của Leybourne.
- Đề xuất và ứng dụng thành công khung phân tích chuỗi thời gian phi tuyến cho các biến số kinh tế vĩ mô của Việt Nam, mở rộng hướng tiếp cận nghiên cứu vượt ra ngoài các giả định tuyến tính truyền thống.
Về thực tiễn và chính sách:
- Xác lập bằng chứng thực nghiệm về tính phi tuyến trong mối quan hệ giữa lạm phát và các biến số vĩ mô tại Việt Nam giai đoạn 2000-2011 thông qua đường cong Phillips dạng LSTR1 với biến chuyển tiếp là khoảng chênh sản lượng trễ ($GAP_{t-1}$), cung cấp công cụ dự báo lạm phát cho các năm 2012-2013.
- Ước lượng thành công hàm cầu tiền phi tuyến dạng STR, qua đó xác định ngưỡng lạm phát tác động tới sự ổn định của hàm cầu tiền tại Việt Nam.
- Đề xuất các khuyến nghị chính sách đối với Ngân hàng Nhà nước:
- Hoạt động điều hành chính sách tiền tệ cần chú trọng tính phi tuyến và độ trễ của các biến số kinh tế vĩ mô, chuyển từ cơ chế phản ứng thụ động sang điều hành linh hoạt, có tính đón đầu dựa trên dự báo;
- Kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng và cung tiền M2, tránh các cú sốc tiền tệ đột ngột làm bùng phát lạm phát;
- Theo dõi sát sao độ lệch giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng nhằm điều tiết tổng cầu hợp lý;
- Ổn định kỳ vọng lạm phát và tâm lý thị trường thông qua việc minh bạch hóa các mục tiêu điều hành chính sách vĩ mô.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế:
- Nguồn số liệu kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu (2000-2011) còn tồn tại sự phân tán, thiếu đồng bộ giữa các cơ quan thống kê; số liệu theo tần suất cao (tháng, quý) đòi hỏi các kỹ thuật điều chỉnh và quy đổi về năm gốc 1994.
- Luận án mới chỉ tập trung phân tích sâu vào hai chỉ tiêu vĩ mô then chốt là lạm phát và cầu tiền bằng họ mô hình chuyển tiếp trơn đơn phương trình hoặc hồi quy chuyển tiếp trơn hai cơ chế, chưa mở rộng thành hệ phương trình phi tuyến đồng thời đa biến.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng áp dụng quy trình mô hình hóa hồi quy chuyển tiếp trơn (STR/STAR) cho các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng khác của nền kinh tế Việt Nam như tỷ giá hối đoái, lãi suất, xuất nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế giữa các ngành.
- Cập nhật chuỗi dữ liệu thời gian cho các giai đoạn tiếp theo sau năm 2011 để kiểm chứng lại tính ổn định của các ngưỡng lạm phát và các hệ số chuyển tiếp trong bối cảnh nền kinh tế tiếp tục tái cơ cấu.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Toán kinh tế, Kinh tế lượng và Kinh tế học vĩ mô: Tham khảo chi tiết Chương 1 về cơ sở toán học của mô hình STR/STAR, thuật toán ước lượng NLS của Leybourne, các kiểm định phi tuyến của Luukkonen, kiểm định lựa chọn cấu trúc của Teräsvirta và các kiểm định chẩn đoán mô hình của Godfrey; tham khảo quy trình thực hành định lượng trên phần mềm EViews 7.0 và JMulTi.
- Chuyên gia phân tích và nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Tham khảo Chương 2 và Chương 3 về các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ, tác động phi tuyến của độ lệch sản lượng tới lạm phát, cơ chế vận động của hàm cầu tiền và phương pháp dự báo lạm phát theo ngưỡng chuyển tiếp.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao tác giả lựa chọn mô hình chuỗi thời gian phi tuyến (STR/STAR) thay vì mô hình tuyến tính truyền thống?
Tác giả chỉ ra rằng các mô hình tuyến tính dựa trên giả định hệ số bất biến theo thời gian. Tại một nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam, các cú sốc bên ngoài (giá dầu, khủng hoảng tài chính) và các điều chỉnh chính sách mạnh mẽ (lãi suất, tỷ giá, cung tiền, cải cách thể chế) tạo ra các điểm gãy cấu trúc và các hành vi bất đối xứng. Việc xấp xỉ tuyến tính hoặc sử dụng biến giả không giải quyết được bản chất liên tục của quá trình chuyển đổi giữa các trạng thái kinh tế, do đó mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR) là công cụ phù hợp để mô tả các mối quan hệ phi tuyến này.
2. Thủ tục kiểm định tính phi tuyến của Luukkonen (1988a) trong luận án được thực hiện như thế nào?
Để kiểm định tính tuyến tính mà không gặp phải vấn đề tham số không xác định dưới giả thuyết không, Luukkonen đề xuất thay thế hàm chuyển tiếp logistic $G(\gamma, c, s_t)$ bằng khai triển Taylor bậc 3 xung quanh điểm $\gamma = 0$. Phương trình hồi quy phụ có dạng:
$$y_t = \beta_0' x_t + \beta_1' x_t s_t + \beta_2' x_t s_t^2 + \beta_3' x_t s_t^3 + u_t^*$$
Kiểm định giả thuyết không $H_0'': \beta_1 = \beta_2 = \beta_3 = 0$. Luukkonen sử dụng thống kê kiểm định $F$ với bậc tự do $3(m+1)$ và $T - 4(m+1)$ thay cho thống kê nhân tử Lagrange (LM-test) để loại bỏ hiện tượng sai chệch khi cỡ mẫu quan sát ở mức nhỏ hoặc trung bình.
3. Quy tắc của Teräsvirta (2004) phân biệt việc lựa chọn giữa mô hình LSTR1 và LSTR2 dựa trên tiêu chí nào?
Sau khi bác bỏ giả thuyết tuyến tính, Teräsvirta đề xuất thực hiện chuỗi ba kiểm định giả thuyết lồng nhau dựa trên phương trình hồi quy phụ của khai triển Taylor:
- $H_{04}: \beta_3 = 0$ (thống kê $F_4$);
- $H_{03}: \beta_2 = 0 \mid \beta_3 = 0$ (thống kê $F_3$);
- $H_{02}: \beta_1 = 0 \mid \beta_2 = \beta_3 = 0$ (thống kê $F_2$).
Nếu kiểm định $H_{03}$ có mức độ bác bỏ mạnh nhất (giá trị $p$-value nhỏ nhất), mô hình LSTR2 (hoặc ESTR) sẽ được ưu tiên lựa chọn. Trong các trường hợp còn lại, tác giả lựa chọn mô hình LSTR1.
4. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập từ những nguồn nào và xử lý ra sao?
Các chuỗi số liệu kinh tế vĩ mô được thu thập từ Tổng cục Thống kê (GSO), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) trong thời kỳ 2000-2011. Nhằm đảm bảo tính đồng nhất và khả năng so sánh giữa các chuỗi số liệu định lượng (GDP, CPI, M2, giá dầu thế giới...), toàn bộ dữ liệu được tác giả quy đổi và điều chỉnh về cùng một năm gốc so sánh là năm 1994 trước khi đưa vào ước lượng trên phần mềm EViews 7.0 và JMulTi.
5. Biến chuyển tiếp được lựa chọn trong mô hình đường Phillips phi tuyến ở Chương 3 là biến nào?
Trong Chương 3, thông qua các kiểm định chỉ định mô hình STR đối với các biến giải thích tiềm năng, tác giả lựa chọn biến độ lệch sản lượng trễ một thời kỳ ($GAP_{t-1}$ - phần chênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng) làm biến chuyển tiếp để ước lượng mô hình LSTR1 cho tỷ lệ lạm phát (dlnCPI).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Minh Hải đã hệ thống hóa lý thuyết họ mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR/STAR) và ứng dụng thành công vào phân tích hai chỉ tiêu kinh tế vĩ mô trọng yếu của Việt Nam là lạm phát và cầu tiền giai đoạn 2000-2011. Các kết quả thực nghiệm với mô hình đường Phillips phi tuyến dạng LSTR1 và hàm cầu tiền dạng STR đã chỉ ra các ngưỡng chuyển tiếp trạng thái cấu trúc, cung cấp cơ sở định lượng để dự báo lạm phát các năm 2012-2013 và phục vụ công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật về kinh tế lượng chuỗi thời gian phi tuyến và phân tích chính sách kinh tế vĩ mô tại Việt Nam.