Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý luận về tín dụng ngân hàng thương mại và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng ngân hàng thương mại Chương 3: Thực trạng tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Kiên Giang II trong đại dịch Covid19 giai đoạn 2019-2021 Chương 4: Kết quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Kiên Giang II trong đại dịch Covid19 giai đoạn 2019-2021. Chương 5: Kết luận và kiến nghị.6 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU Đề tài nghiên cứu có tham khảo một số tài liệu có liên quan đến tài liệu nghiên cứu như sau: - “Phân tích hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank chi nhánh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011-2013 và đề xuất chiến lược nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng trong thời gian tới” của Phạm Đăng Quỳnh Trâm lớp K44B (2014) - Đại học Kinh tế Huế. Đề tài nghiên cứu tổng quan về tín dụng ngân hàng và tình hình hoạt động tín dụng để đưa ra những chiến lược nâng cao chất lượng tín dụng. - “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng cá nhân tại ngân hàng Agribank chi nhánh Quảng Bình” của Nguyễn Thị Hoài Thương (2014) – Đại học Thăng Long.
Đề tài phân tích hiệu quả hoạt động tín dụng cá nhân tại Chi nhánh qua đó chỉ ra ưu điểm và tồn tại nhằm đưa ra một số vấn đề để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng cá nhân của ngân hàng Agribank chi nhánh Quảng Bình. Đề tài phân tích hiệu quả nên em chỉ tham khảo cách phân tích tín dụng cho phần phân tích hoạt động tín dụng của đề tài. 3 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 2.1 Tín dụng ngân hàng 2.1 Khái niệm Tín dụng đã ra đời từ lâu và trải qua nhiều giai đoạn phát triển với các hình thức khác nhau. Lịch sử ra đời và phát triển của tín dụng gắn liền với lịch sử phát triển của phương thức sản xuất hàng hóa.
Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa, tín dụng ngày càng phát triển cả về nội dung và hình thức, và hình thức phát triển cao nhất là tín dụng ngân hàng. Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại từ rất lâu trong xã hội loài người. Thuật ngữ tín dụng xuất phát từ chữ Latinh là “credo” có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau. Một cách khái quát, “Tín dụng là quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận”.
Từ khái niệm trên, ta có thể thấy rằng tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Đó là quan hệ giữa hai bên trong đó một bên chu cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ cho bên kia và bên kia cam kết thanh toán lại trong tương lai bao gồm cả khoản nợ gốc và khoản lãi. Đứng trên mỗi góc độ khác nhau người ta sẽ có những cách hiểu khác nhau về tín dụng. Nhưng dù đứng trên quan điểm nào thì bản chất của tín dụng vẫn không hề thay đổi: trong quan hệ tín dụng, người cho vay chỉ nhường quyền sử dụng vốn cho người đi vay trong một thời gian nhất định, chứ không nhường quyền sử dụng, và người đi vay phải hoàn trả lại cho người cho vay khi đến hạn thỏa thuận.
Sự hoàn trả này không chỉ là sự bảo tồn về mặt giá trị mà còn được tăng thêm dưới hình thức lãi suất.2 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng - Đặc trưng đầu tiên cần phải nói đến là sự tín nhiệm: Tín dụng thực 4 chất là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin. Ở đây, người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả, có khả năng trả nợ và có thiện chí trả nợ ngân hàng trong tương lai khi hợp đồng tín dụng đến hạn. - Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn Thời hạn vay là một trong những nội dung không thể thiếu trong bất kì hợp đồng tín dụng nào. Việc xác định thời hạn cho vay phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất, kinh doanh, chu kỳ luân chuyển vốn, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn ngân hàng sử dụng để cho vay.
- Thứ ba là tính hoàn trả: Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là thuộc tính riêng của nghiệp vụ tín dụng. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Điều này có nghĩa là bên đi vay phải hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.3 Phân loại tín dụng Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác nhau.
Để sử dụng và quản lý có hiệu quả thì phải tiến hành phân loại tín dụng. Ngoài ra việc phân loại tín dụng còn tạo tiền đề giúp ngân hàng thiết lập quy trình tín dụng thích hợp với từng đối tượng, giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. a Theo thời hạn tín dụng - Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm và thường được sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của doanh nghiệp và phục vụ nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân. Đối với NHTM, TDNH chiếm tỷ trọng lớn nhất.
- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm, chủ yếu được sử dụng mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rống sản xuất, đổi mới công nghệ, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, thường được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn 5 b Theo tài sản đảm bảo - Tín dụng có đảm bảo: Là loại tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp, cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Ngân hàng nắm giữ tài sản của người vay để xử lý, thu hồi nợ khi người vay không thực hiện các nghĩa vụ đã được cam kết trong hợp đồng tín dụng. Hình thức này thường áp dụng với các khách hàng không có hoặc chưa có uy tín cao với ngân hàng.
- Tín dụng không có đảm bảo: là loại tín dụng không có tài sản thế chấp cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, việc cho vay chủ yếu chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng.Loại tín dụng này có thể được cấp cho các khách hàng có uy tín, thường là khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay. c Theo xuất xứ tín dụng - Tín dụng trực tiếp: Là hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp trả nợ vay cho ngân hàng. Trong tín dụng trực tiếp, rủi ro của ngân hàng thấp hơn vì ngân hàng trực tiếp gặp gỡ, tiếp xúc với khách hàng, từ đó có cái nhìn trực quan hơn về khách hàng, đưa ra được quyết định đúng đắn hơn. - Tín dụng gián tiếp: Là hình thức cấp tín dụng thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hay chứng từ nợ đã phát sinh và còn thời hạn thanh toán của khách hàng.
Tín dụng gián tiếp thường đem lại rủi ro cao hơn cho ngân hàng vì ngân hàng không có đầy đủ thông tin về con nợ. Tuy nhiên, hình thức tín dụng gián tiếp này giúp ngân hàng tăng nhanh doanh số cho vay, tiết kiệm chi phí trong cho vay.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế 2.1 Đối với bản thân mỗi ngân hàng - Trong nền kinh tế thị trường, NHTM đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội. Ngay từ buổi đầu, hoạt động của NHTM đã tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay để đáp ứng nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp, hoặc nhu cầu tiêu dùng cá nhân.Trong quá trình phát triển, mặc dù môi trường kinh doanh có nhiều thay đổi, nhiều phương pháp sản xuất mới, công cụ kinh doanh mới song hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ các hoạt động của ngân NHTM, là hoạt đông kinh doanh chủ yếu tạo ra nguồn thu chính cho NHTM. Điều này cho thấy hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng bậc 6 nhất của một NHTM.
- Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngày càng phát triển với sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế, theo đó quan hệ tín dụng cũng được mở rộng cả về đối tượng và quy mô làm cho hoạt động tín dụng ngày càng đa dạng và phức tạp hơn. Hiện nay các ngân hàng đang phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh hết sức gay gắt. Ngân hàng có hoạt động tín dụng tốt thì mới có thể cạnh tranh và phát triển bền vững được. Hoạt động tín dụng tốt tạo cơ sở vững chắc cho ngân hàng trong việc đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ, cải thiện nguồn thu nhập và phân tán rủi ro.
Một khách hàng ngoài việc có quan hệ tín dụng với ngân hàng còn có thể sử dụng các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng khi có nhu cầu giúp tạo nguồn thu bổ sung cho ngân hàng. Thông qua việc tìm hiểu về các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, các ngân hàng còn có điều kiện để phát triển dịch vụ tư vần cho khách hàng, tăng cường uy tín và hình ảnh của ngân hàng, giúp ngân hàng dễ dàng hơn trong việc huy động vốn cho người dân, tạo đà cho ngân hàng tồn tại và phát triển bền vững.2 Đối với khách hàng của ngân hàng Hoạt động tín dụng ngân hàng giúp khách hàng thỏa mãn được các nhu cầu cần thiết, cấp bách ngay cả khi chưa có đủ tiền.