Chương 1: Đặt vấn dé: Sự cần thiết của dé tài nhằm nêu lên tầm quan trọng của công tác quản trị tài chính thông qua phân tích các báo cáo tài chính. Đồng thời nêu lên mục tiêu nội dung và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Trong phần cơ sở lý luận gồm có: khái niệm, vai trò, ý nghĩa của phân tích tài chính; đánh giá khái quát tình hình tài chính tại doanh nghiệp thông qua các bảng báo cáo.
Ý nghĩa của các chỉ tiêu thanh toán, tỉ suất lợi nhuận trên tổng tài sản và tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Một số khái niệm và phương pháp dự báo. Phương pháp nghiên cứu: thu thập số liệu từ các phòng ban của công ty, tiến hành xử lý số liệu và phân tích thông qua các công cụ xử lý. Chương 3: Tổng quan Giới thiệu khái quát về công ty: lịch sử hình thành, chức năng và nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức quản lý, sơ lược về nhiệm vụ của các phòng ban.
Đặc điểm và chức năng công tác tổ chức bộ máy kế toán tại công ty. Quy trình sản phẩm của công ty. Chương 4: Nghiên cứu và thảo luận Nội dung chương này di sâu vào phân tích tình hình thực tế tại công ty. Vận dụng cơ sở lý luận đã nêu ở chương 2 nhằm đánh giá biến động tài chính của công ty từ bang cân đối tài sản và báo cáo thu nhập; phân tích kha năng sinh lời và đo lường rủi ro, khả năng thanh toán của công ty qua 2 năm 2003-2004.
Qua phân tích tình hình tài chính và hoạt động của công ty đưa ra một số nhận xét và có ý kiến nhằm hoàn thiện hơn công tác quản trị tài chính tại công ty. Dự báo và hoạch định tài chính cho kỳ hoạt động tới ( năm 2005). Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày một số kết luận rút ra từ nội dung đã phân tích đồng thời có ý kiến một số giải pháp khả thi có thể áp dụng tại công ty để hoàn thiện hơn công tác quản trị tài chính. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm về phân tích tài chính Phân tích tài chính là việc đánh giá một cách tổng quát tình hình tài chính đơn vị thông qua việc xem xét cụ thé các loại vốn và nguồn vốn, kha năng thanh toán của doanh nghiệp.
Từ đó xem xét, kiểm tra một cách có hệ thống sự phân phối và đảm bảo nhu cầu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích tài chính là quá trình tìm hiểu các kết quả của sự quản lý và điều hành tài chính của doanh nghiệp được phan ánh trên các báo cáo tài chính đồng thời đánh giá những gi đã làm được, dự kiến những gi sẽ xay ra, trên cơ sở đó kiến nghị những biện pháp để tận dụng những điểm mạnh, khắc phục các điểm yếu. Phân tích tài chính doanh nghiệp là phân tích các mối quan hệ bên trong và bên ngoài đơn vị. Qua đó nêu lên sức mạnh tài chính, đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin cần thiết để các bộ phận có quan hệ với doanh nghiệp ra quyết định.2 Vai trò, mục đích, ý nghĩa của việc phân tích tài chính 2.1 Vai trò Phân tích tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy phát triển doanh nghiệp.
Từ những mục tiêu đạt được trong quá trình phân tích tài chính sẽ là cơ sở cho các giải pháp nhằm ổn định và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh cho đơn vị. Phân tích tài chính được hiểu như quá trình đánh giá, xem xét các số liệu tài chính hiện hành và quá khứ, nhằm đánh giá những rủi ro tiém ẩn trong tương lai phục vụ cho các quyết định tài chính của doanh nghiệp. Mặt khác phân tích tài chính của doanh nghiệp để đáp ứng nhu cau sử dụng của nhiều đối tượng quan tâm đến những khía cạnh khác nhau của doanh nghiệp về tài chính để phục vụ cho mục đích của mình. Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: mối quan tâm hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ.
Ngoài ra các nhà quản lý còn quan tâm tới những mục tiêu khác nhau như: tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, cung cấp nhiều sản phẩm hàng hoá dịch vụ với chi phí thấp, đóng góp phúc lợi xã hội. Tuy vậy, doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện mục tiêu này nếu kinh doanh có lãi và thanh toán nợ. Đối với ngân hàng và các nhà tín dụng: mối quan tâm của họ hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ đặc biệt chú ý đến số lượng tiền và tài sản có thể chuyển đổi thành tiền nhanh.
Ngoài ra họ rất quan tâm đến số lượng vốn của doanh nghiệp bởi vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro. Đối với các nhà cung cấp vật tu, hàng hoá, dịch vu,. họ phải quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hay không. Nhóm này cũng quan tâm đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Đối với các nhà đầu tư: mối quan tâm lớn nhất của họ hướng vào các yếu tố như sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, kha năng thanh toán vốn. Vì vậy, họ cần những thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và các tiém năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Dong thời các nhà dau tư cũng rất quan tâm tới việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả của công tác quan lý. Điều đó dam bảo an toàn cho các nhà dau tư.
Đối với cơ quan tài chính, thuế, thống kê, chủ quản, những người có nhu cau thông tin cơ bản giống như các ngân hàng, các nhà dau tư, chủ doanh nghiệp.Bởi vì nó liên quan đến các quyên lợi, trách nhiệm đến khách hàng trong hiện tại và tương lai của họ.2 Mục đích Mục đích quan trọng của việc phân tích báo cáo tài chính là giúp người ra quyết định đánh giá chính xác thực trạng tiềm năng của doanh nghiệp. Từ đó lựa chọn phương án tối ưu.3 Ý nghĩa Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp. Do đó tất cả hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh.
Hoạt động tài chính là nội dung chủ yếu của hoạt động san xuất kinh doanh. Các báo cáo tài chính phản ánh kết quả về tình hính của các mặt hoạt động của doanh nghiệp bằng các chỉ tiêu giá trị. Những báo cáo này do kế toán soạn thảo theo định kỳ nhằm cung cấp thông tin về kết quả và tình hình tài chính của doanh nghiệp hoặc các đối tượng cần sử dụng.3 Đánh giá khái quát tình hình tài chính 2.1 Đánh giá biến động kết cấu tài sản Bang cân đối tài sản (hoặc bang cân đối kế toán) là báo cáo kế toán chủ yếu phần ánh tổng quát tài sản của doanh nghiệp theo hai phần cân đối với nhau là tài sản và nguồn vốn ở một thời điểm nhất định thường là kỳ cuối cùng của kỳ kế toán. Bảng cân đối này bao gồm có hai phần: bên trái của bảng thể hiện tài sản có của công ty; bên phải của bảng thể hiện các nguồn vốn tài trợ để hình thành tài sản có.
Thông qua dang thức kế toán của bang cân đối tài sản ta có thể đánh giá được thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Tổng số tài sản = tổng nguồn vốn Tổng số tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu Tài sản lưu động + Tài san cố định = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu 2.2 Bảng báo cáo thu nhập Bảng báo cáo thu nhập ( hay bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) nhằm xác định kết quả hoạt động của một doanh nghiệp sau một năm tại một thời điểm. Bảng báo cáo thu nhập thể hiện: tổng thu, các khoản chi cho sản xuất và tiêu thụ, khoản chi về lãi vay, giá trị khấu hao, thuế nộp và phan thu nhập của vốn chủ sở hữu của công ty sau một năm hoạt động.4 Phân tích tình hình tài chính thông qua các ti số tài chính 2.1 Các chỉ tiêu thanh toán 2.1 Hệ số thanh toán ngắn hạn Hệ số thanh toán ngắn hạn còn gọi là hệ số thanh toán hiện hành (Current rato _Rc) hay hệ số thanh khoản (Liquidity ratio) Hệ số thanhtoán _ Tài sản lưu động ngắn hạn 5 Nợ ngắn hạn Hệ số này biểu thị sự cân bằng giữa tài sản lưu động và các khoản nợ ngắn hạn khác là hiện trạng tài sản lưu động trong kỳ kinh doanh hiện tại — thường là | niên độ. Hệ số thanh toán ngắn hạn chỉ ra kha năng đáp ứng các cam kết ngắn hạn của công ty, qua đây thể hiện 1 đồng nợ ngắn hạn được dam bảo bởi bao nhiêu đồng TSLĐ.
Khi Rc >1 thể hiện rủi ro thanh khoản với nợ ngắn hạn thấp. Rc <1 rủi ro thanh khoản với nợ ngắn hạn tăng lên.2 Hệ số thanh toán nhanh Hệ số thanh toán nhanh (Quick ratio_Rạ) đo lường mức độ đáp ứng nhanh vốn lưu động trước các khoản nợ ngắn hạn. Khoản có thể dùng để trả ngay các khoản nợ đến hạn là tiền và chứng khoán ngắn hạn. Tiền và các khoản tương đương tiền Hệ số thanh toán nhanh = Nợ ngắn hạn Hay : TSLD - Hàng tổn kho TSLD - Khoản phải thu Hệ số thanh toán nhanh = = Nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn Hệ số này càng lớn thể hiện kha năng thanh toán nhanh càng cao.
Tuy nhiên, hệ số quá lớn( tiền mặt, các chứng khoán ngắn hạn,.ton quá nhiều) gây tình trạng lãng phí của vốn lưu động có thể không hiệu quả.2 Các chỉ tiêu hiệu qua sử dụng vốn 2.1 Hệ số của số vòng quay tài sản (TAR_ Total assets ratio) Doanh thu thuần TAR = Tổng tài sản có bình quân Tổng tài sản Tài sản đầu kỳ + Tài san cuối kỳ có bình quân 2 Hệ số của số vòng quay tài san nói lên doanh thu được tao ra từ tổng tai sản bình quân hay nói cách khác: một đồng tài sản bình quân nói chung mang lại bao nhiêu đồng doanh thu. Hệ số càng cao hiệu quả sử dụng tài san càng cao.2 Số vòng luân chuyển hàng tôn kho (Ri hay IT_ Inventory Ratio) Đây là chỉ tiêu đánh giá tốc độ luân chuyển hàng hoá nhanh hay chậm.