CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Thực trạng phân tích tài chính cũng như đánh giá chất lượng phân tích tài chính đóng vai trò hết sức quan trọng đối với hệ thống tài chính nước nhà, vì thế, rất nhiều tác giả Việt Nam đã tham gia tìm hiểu đề tài này với rất nhiều công trình nghiên cứu tại nhiều góc độ khác nhau về vấn đề phân tích tài chính. Dưới đây là một vài tóm tắt của một số bài nghiên cứu liên quan đến quy trình thẩm định tín dụng tại các NHTM mà tác giả được biết đến mà có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu: - Luận văn thạc sĩ “Nâng cao chất lượng phân tích tài chính tại công ty cổ phần luyện cán thép Gia Sàng” của tác giả Nông Thị Phương Thu đã đánh giá đúng thực trạng của công ty và từ các lý luận đưa ra được các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng phân tích tài chính tài CTCP Luyện cán thép Gia Sàng nói riêng và các doanh nghiệp nói chung - Nghiên cứu “Hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính khách hàng tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Đà Nẵng” của tác giả Ngô Thị Lan Hương đã trình bày cơ sở lí luận cơ bản về PTTC DN tại NHTM, phân tích thực trạng quy trình PTTC DN tại Vietcombank để đánh giá và đề xuất giải pháp, kiến nghị phù hợp để nâng cao chất lượng PTTC. - Luận án thạc sĩ kinh tế “Phân tích tài chính trong các doanh nghiệp giao thông đường bộ tại Việt Nam” của tác giả Phạm Xuân Kiên đã đưa ra được thực trạng phân tích tài chính trong các doanh nghiệp giao thông vận tải đường bộ và nêu lên chiến lược phát triển giao thông đường bộ và yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện phân tích tài chính trong các doanh nghiệp giao thông đường bộ. - Nghiên cứu “Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại các NHTM Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Bích Vượng đã đưa ra 2 nhóm chỉ tiêu định tính và định lượng để đánh giá chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của NHTM.
3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHDN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về hoạt động cho vay 1. Khái niệm Căn cứ vào Khoản 1 Điều 3 của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước): “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Phân loại hoạt động cho vay Phân loại cho vay là qua các tiêu thức để sắp xếp các khoản vay vào các nhóm khác nhau.
Công đoạn này nhằm giúp thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Căn cứ vào thời hạn cho vay - Cho vay ngắn hạn. Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt VLĐ cho các DN và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. - Cho vay trung hạn.
Là các món vay có khoảng thời gian trên 12 tháng đến 60 tháng. Cho vay trung hạn chủ yếu được mua sắm TSCĐ, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh, hình thành VLĐ thường xuyên của các DN, đặc biệt là những DN mới thành lập… - Cho vay dài hạn. Là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm. Cho vay dài hạn nhằm mục đích tài trợ cho các công trình xây dựng cơ bản như xây 4 dựng nhà ở, sân bay, cầu đường, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới… b.
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay - Cho vay tiêu dùng. Cho vay tiêu dùng là khoản cho vay để tài trợ cho việc tiêu dùng nhằm giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hóa dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho người vay được hưởng mức sống cao hơn. Thông thường quy mô của những khoản vay này nhỏ rủi ro cao vì phụ thuộc phần lớn vào thu nhập và ý thức trả nợ của khách hàng. Mà hiện nay, ở Việt Nam tỷ lệ thu nhập ngầm là rất cao (là những khoản thu nhập không kiểm soát được) nên lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao.
Đối tượng được vay là các cá nhân và hộ gia đình vay để phục vụ cho mục đích mua nhà, mua ôtô, du học, du lịch… - Cho vay kinh doanh. Là loại hình cho vay của tổ chức tín dụng đối với các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức như: cho vay công nghiệp, cho vay thương mại, cho vay nông nghiệp… c. Căn cứ vào tính chất bảo đảm của khoản vay - Cho vay có tài sản đảm bảo. Là loại cho vay dựa trên cơ sở có bảo đảm như cầm cố, thế chấp, hoặc phải có bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba.
- Cho vay không có tài sản đảm bảo. Cho vay không có tài sản đảm bảo là việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng đi vay mà không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc sự bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ 3. Căn cứ vào phương thức cho vay - Cho vay trực tiếp từng lần. Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi.
Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả. - Cho vay theo hạn mức tín dụng. Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng, hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ.
Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. + Cho vay trong hạn mức: Số dư nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức. Khách hàng có thể vay trả nhiều lần trong kỳ nhưng dư nợ không vượt quá hạn mức. + Cho vay ngoài hạn mức: Số dư lớn hơn hạn mức.
Ngân hàng quy định hạn mức tín dụng cuối kỳ. Dư nợ trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức nhưng đến cuối kỳ khách hàng phải trả nợ để giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kỳ không vượt quá hạn mức. Cho vay thấu chi Là hình thức cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một thời hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp và cá nhân vài ngày trong tháng, vài tháng trong năm dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng… f. Cho vay luân chuyển Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa, áp dụng đối với các doanh nghiệp thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể 6 thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Cho vay trả góp Là hình thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong hạn mức tín dụng đã thỏa thuận.
Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho TSCĐ hoặc lâu bền. Số tiền một lần trả được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ (thường là khấu hao và thu nhập sau thuế của dự án, hoặc thu nhập hàng kỳ của người tiêu dùng). Cho vay gián tiếp + Cho vay gián tiếp thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất (nguyên liệu, cây giống…) hoặc sản phẩm tiêu dùng. Việc cho vay này sẽ hạn chế người vay sử dụng tiền sai mục đích.
+ Cho vay gián tiếp thông qua các tổ chức trung gian. Các tổ chức trung gian này sẽ đứng ra bảo lãnh cho các thành viên trong hội vay vốn của ngân hàng nhằm mục đích phát triển kinh tế cho các thành viên trong hội, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm… i. Cho vay hợp vốn Là hình thức cho vay gồm một nhóm các tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn của khách hàng. Trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.
Các tổ chức tín dụng phải ký kết với nhau về việc hợp vốn trên. Cho vay theo dự án đầu tư Phương thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống. Khách hàng vay vốn phải có vốn đầu tư tham gia vào dự án. Vốn tham gia dự án có thể là tiền hoặc tài sản được đưa vào sử dụng cho dự án kể cả giá trị quyền sử 7 dụng đất, quyền sở hữu nhà xưởng, tiền thuê đất đã trả, các chi phí mà khách hàng đã đầu tư vào dự án.
Vốn tham gia của chủ đầu tư phải đưa vào công trình trước khi ngân hàng cho vay sau khi hoặc cùng tham gia theo tỉ lệ. + Đối với các dự án cải tiến mở rộng sản xuất, hợp lý hóa sản xuất phải có vốn tự có tối thiểu tham gia dự án bằng 10% tổng mức vốn đầu tư của dự án mở rộng. + Đối với dự án đầu tư mới, khách hàng phải có vốn tham gia tối thiểu bằng 30% tổng mức vốn đầu tư cho dự án mới. Tổng nhu cầu vốn của dự án bao gồm cả vốn cố định và VLĐ.
Căn cứ để giải ngân là hợp đồng thi công, chứng từ cung ứng, nhập khẩu vật tư, thiết bị, công nghệ, giá trị khối lượng… đã được xác định.