CHƯƠNG 1. C ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CHƯỢNG 2. THựC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỐ PHẦN ĐỊA ỐC MB CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐỊA 6 CHƯ ƠNG 1 C ơ SỞ LÝ LU Ậ N VÊ PHÂN TÍCH TÀI C H ÍN H TRO NG CÁC DO ANH NG H IỆP 1.1 K h á i n iệ m , m ụ c tiêu và n g u y ên tắ c củ a phân tích tà i ch ín h tro n g các d oa n h n g h iệp 1.1 K h á i n iệm p h â n tích tài ch ín h Hiện nay có nhiều cách diễn giải về khái niệm phân tích tài chính (PTTC).
Theo quan điểm của các tác giả trong sách “Phân tích tài chính doanh nghiệp” của Đại học kinh tế quốc dân: “ Phân tích tài chính doanh nghiệp (DN) là một quá trình kiểm tra, xem xét các số liệu về tài chỉnh hiện hành và trong quả khứ nhằm mục đích đánh giả thực trạng tài chính, dự tính các rủi ro và tiềm năng tương lai của một DN, trên cơ sở đó giúp cho nhà phân tích ra các quyết định tài chỉnh có liên quan tới lợi ích của họ trong DN đó".[ 14] Theo quan điểm của các tác giả trong sách “Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp” của Học viện tài chính: “ Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp cho phép đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, dự đoán tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp, giúp cho nhà quản lỷ đưa ra các quyết định quản lý hợp lý, phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm '\[\6] Theo quan điểm của Josette Peyrard: “ Phân tích tài chính có thể được định nghĩa như một tông thê các phương pháp cho phép đánh giá tình hình tài chính quá khứ và hiện tại, giúp cho việc ra quyết định quản trị và đánh giá doanh nghiệp một cách chính xác ” [1 3 ] Nhiều nhà nghiên cứu khác cho rằng: “Phân tích tình hình tài chinh là một hệ thống các phương pháp nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời gian hoạt động nhất định. Trên cơ sở đó, giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định chuẩn xác trong quá trình kinh doanh.” 7 Những quan điểm trên dù có những điểm khác biệt trong cách diễn giải nhưng đều có sự thống nhất với nhau, đó là: PTTC là tổng thể các phưomg pháp đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin tài chính cho các đối tượng quan tâm sử dụng. Từ phân tích ở trên, có thể thấy rằng PTTC trong các doanh nghiệp là một quá trình đánh giá số liệu bằng các phương pháp kỹ thuật thích họp nhàm đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp, dự đoán các chỉ tiêu tài chính trong tương lai cũng như các rủi ro tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải. Từ đó giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định đúng đắn đáp ứng, phù họp với lợi ích của mình.2 M ụ c tiêu củ a p h â n tích tài ch ín h tại các d o a n h n g h iệp Trong nền kinh tế thị trường, PTTC là mối quan tâm của nhiều chủ thể, mỗi chủ thể quan tâm dưới các góc độ khác nhau.
Thông qua PTTC sẽ giúp các chủ thể thấy rõ bức tranh toàn cảnh về thực trạng tài chính của doanh nghiệp: kết quả kinh doanh, biến động tài chính, các nhân tố và nguyên nhân ảnh hưởng đến tài chính, dự đoán về tài chính. Mỗi chủ thể chọn cho mình những thông tin cần thiết phù họp, trên cơ sở đó họ đưa ra những quyết định để bảo toàn và gia tăng lợi ích của họ gắn với hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, những người phân tích tài chính doanh nghiệp ở những cương vị khác nhau sẽ nhằm tới những mục tiêu khác nhau: [14] • Đ ố i v ớ i cá c nh à q u ả n trị tà i ch ín h D N Do thông tin đầy đủ và hiểu rõ doanh nghiệp nên các nhà.PTTC trong doanh nghiệp có nhiều lợi thế để PTTC tốt nhất. Thông qua PTTC các nhà quản trị nhàm các mục tiêu sau: Đánh giá thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ như: cơ cấu vốn, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, khả năng trả nợ, những rủi ro tài chính.
trên cơ sở đó xác định mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp. Định hướng cho ban lãnh đạo ra các quyết định đầu tư, các quyết định tài trợ, quyết định phân chia lợi tức. Làm cơ sở cho việc lập các kế hoạch tài chính, kế hoạch sản xuất, kế hoạch marketing. cho kỳ sau.
8 Nhiều DN mắc kẹt khi triển khai quá nhiều dự án BĐS cùng một lúc, do đó oằn lưng với gánh nặng nợ vay ngân hàng. Một số DN không có vay nợ, có sức khỏe tài chính tốt, chỉ tập trung vào việc hoàn thiện các dự án đang dang dở và dừng triển khai các dự án mới. Do đó, việc phân tích tài chính nhằm nâng cao hiệu quả họat động của các doanh nghiệp bất động sản (DNBĐS) là cần thiết và cấp bách. • Đ ố i v ớ i cá c n h à đ ầ u tư Thu nhập của họ là tiền chia lợi tức cổ phần và giá trị gia tăng thêm của vốn đầu tư.
Hai yếu tố này quyết định bởi lợi nhuận của doanh nghiệp, lợi nhuận thực sự ở hiện tại và tương lai. Do vậy, thông qua PTTC giúp họ đánh giá được khả năng sinh lời, đánh giá các cổ phiếu trên thị trường, khả năng thanh toán nợ cũng như hiệu quả sử dụng vốn đầu tư để có căn cứ quyết định bỏ vốn vào doanh nghiệp hoặc rút ra khỏi doanh nghiệp đó. • Đ ố i v ó i n g ư ò i ch o v a y Đe ra các quyết định cấp hay không cấp tín dụng, cấp tín dụng ngắn hay dài hạn, người cho vay đều quan tâm đến DN thực sự có nhu cầu vay vốn hay không, khả năng hoàn trả nợ như thế nào? PTTC đối với những khoản cho vay dài hạn khác ngắn hạn, nếu trước quyết định cho vay ngắn hạn người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngắn hạn của DN thì trước quyết định cho vay dài hạn, người cho vay lại đặc biệt quan tâm đến khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh (HĐKD) của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp BĐS người cho vay còn quan tâm đến dự án BĐS vì đây là tài sản đảm bảo khi nợ xấu xảy ra, hơn nữa tài sản đảm bảo này cũng dễ bán hơn so với các doanh nghiệp khác, đặc biệt trong điều kiện thị trường BĐS đang có dấu hiệu phục hồi như hiện nay.
Vì vậy các DN BĐS cũng khá được ưu tiên trong việc xem •xét cho vay so với các loại hình DN khác. • Đ ố i v ớ i c ơ q u a n q u ả n lý N h à n ư ớc PTTC giúp cho việc thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế. Dựa vào các báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp BĐS, các cơ quan Nhà nước sẽ phân tích, đánh giá, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh 9 doanh để xem các doanh nghiệp này có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước hay không, có tuân thủ pháp luật hay không. Qua phân tích ta thấy nhu cầu sử dụng và khai thác thông tin của từng đối tượng sử dụng thông tin đối với thực trạng tài chính DN rất đa dạng.
Mỗi đối tượng tùy theo mục đích riêng của mình sẽ sử dụng các chỉ tiêu phù hợp để PTTC. Tuy vậy, sự hiểu biết về kế toán tài chính của từng đối tượng này lại không đồng đều và thường nảy sinh những xung đột lợi ích do nhận thức khác biệt này. Tóm lại, dù có sự khác biệt nhất định nhưng PTTC sẽ giúp người sử dụng thông tin có thể đánh giá thực trạng tài chính DN, từ đó đưa ra quyết định tối ưu phù họp với lợi ích của mình.2 C ơ s ở d ữ liệu sử d ụ n g tro n g ph ân tích tà i ch ín h d o a n h n g h iệp 1.1 T h ô n g tin tà i ch ín h Đây là những thông tin được cung cấp chủ yếu từ hệ thống BCTC và hệ thống sổ sách kế toán: bảng cân đối tài khoản, sổ chi tiết, sổ cái các tài khoản.Trong đó các BCTC nhằm phản ánh tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của DN và cung cấp những thông tin kế toán tài chính có ích cho những người sử dụng cả ở bên trong và ngoài DN. BCTC là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu (VCSH), công nợ và các luồng tiền cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của DN.
Nói cách khác, BCTC là phưong tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của DN giúp những người quan tâm đưa ra các quyết định kinh tế phù hợp. Ngoài các thông tin này, DN còn phải cung cấp các thông tin khác trong “Bản thuyết minh báo cáo tài chính” nhằm giải trình thêm về các chỉ tiêu đã phản ánh trên các báo cáo tài chính tổng hợp và các chính sách kế toán đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, ỉập,.và trình bày BCTC. Theo chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành (Thông tư số 200 ban hành ngày 22/12/2014 của Bộ tài chính), hệ thống BCTC áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm các loại biểu mẫu sau: 1. Báo cáo tài chính năm gồm (Luận văn này sẽ đi vào hệ thống BCTC 10 năm): Bảng cân đối kế toán Mau B01-DN Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mầu B02-DN Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mau B03-DN Bản thuyết minh Báo cáo tài chính Mau B09-DN Báo cáo tài chính giữa niên độ a.
Bảo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ: Bảng cân đối kế toán giữa niên độ Mầu B01a-DN Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ Mầu B02a-DN Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ Mầu B03a-DN Bản thuyết minh Báo cáo tài chính chọn lọc Mau B09a-DN b.