Chương 1 Một số vấn đề lý luận về thể loại sử thi và tiểu thuyết - sử thi 1. Khái quát về sử thi. Sử thi cổ đại là những tác phẩm văn học thuộc loại tự sự ra đời từ rất sớm, khi cộng sản nguyên thuỷ đã tan rã, nhưng xã hội phong kiến chưa hình thành. Một thời đại có những biến cố lịch sử đặc biệt quan trọng, quyết định lớn đến toàn bộ đời sống tinh thần và vận mệnh của dân tộc và nhân dân.
Đó là xung đột giữa các bộ tộc, bộ lạc người, cách làm ăn sinh sống, những phong tục tập quán. để đi đến một sự thống nhất chung, một khát vọng cao cả mang lý tưởng nhân loại. Cho nên những tác phẩm văn học này nó vừa mang nét tươi mới hồn nhiên, ngây thơ của buổi hồng hoang vừa có tầm vóc về khối lượng và qui mô lớn trong sự phản ánh thực tại. Vì vậy mà được gọi là thời đại của sử thi, thời đại anh hùng.
Hơn nữa đây là những tác phẩm có màu sắc dân gian, nội dung kể lại các sự kiện và các nhân vật lịch sử hoặc tôn giáo đã được trí tưởng tượng dân gian tô vẽ thêm thành những huyền thoại. Nếu như trong tiểu thuyết - sử thi số phận cá nhân còn chiếm địa vị trọng tâm và lịch sử đôi khi chỉ là đường viền cho các nhân vật hoạt động, thì trong sử thi vị trí trung tâm là các biến cố lịch sử đối với đời sống, và vận mệnh của các dân tộc. Trong tác phẩm sử thi nổi bật là tính khái 10 quát cao và nhiều giá trị nhận thức, giáo dục tư tưởng và thẩm mĩ lớn, vì vậy nó đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền văn hoá dân tộc: Ramayana, Mahabharata, Illiade, Odyssée, Đam san, Xinh nhã. là những tác phẩm thuộc các nền văn học khác nhau nhưng dường như chúng có những tiêu điểm chung là đều đem đến cho bạn đọc những lý tưởng tốt đẹp, xứng đáng là những tác phẩm được lưu truyền mãi mãi không bị mai một theo thời gian.
Ra đời từ một thế giới “khởi nguyên‟‟, một thế giới tốt đẹp, thế giới “ban mai”, đặc biệt là một thế giới mang tính cộng đồng và ý thức cộng đồng sâu sắc, đoàn kết muôn người như một là động lực mạnh mẽ tạo ra một sức mạnh phi thường để hướng tới một cuộc sống cao đẹp. Mỗi cá nhân đều có ý thức, trách nhiệm hoà đồng vớí mục đích chung của cộng đồng. Sử thi được chia làm hai loại: sử thi cổ sơ và sử thi cổ đại. Thời đại của sử thi cổ sơ là thời đại chưa có giai cấp và đối kháng giai cấp.
Sử thi Ê Đê ra đời trước khi hình thành nhà nước chiếm hữu nô lệ. Còn sử thi cổ đại ra đời sau khi hình thành nhà nước: “Sự liên kết thành nhà nước của các bộ tộc là một nhân tố quyết định của sự phát triển của sử thi. Chính yếu tố nhà nước này trong tuyệt đại đa số tác phẩm, qui định sự khác nhau giữa sử thi cổ sơ và sử thi cổ đại‟‟. Vấn đề này ta thấy rõ trong sử thi ấn Độ.
Xã hội trong Mahabharata có sự mâu thuẫn lớn giữa “dân chủ bộ lạc và chiếm hữu nô lệ, mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp bao gồm mâu thuẫn các dòng họ và các cá nhân”<4, tr577>. Những mâu thuẫn trên, là nguyên nhân của chiến tranh. Chiến tranh làm nhiệm vụ “bà đỡ của lịch sử”, thống nhất lực lượng đưa cộng đồng thành bộ lạc đến bộ tộc và liên minh bộ tộc dần dần đến dân tộc. Vậy chiến tranh chính là đề tài của sử thi.
Bởi nó mang những xung đột dữ dội từ xã hội đến tư tưởng tình cảm con người. Mỗi dân tộc, mỗi đất nước đều mang những sắc thái dân tộc khác nhau. Tuy nhiên điều khác biệt ở sử thi ấn Độ khi miêu tả chiến tranh là nhằm phục vụ cho tư tưởng “phi bạo lực”<4, tr 11 577>. Sự tàn sát thảm hại của chiến tranh cho người ta bài học về tự kìm chế, phẫn nộ và căm thù.
Mọi sự kiện, mọi vấn đề phong tục, nghi lễ, các tầng lớp trong xã hội. đều được phản ánh trong sử thi ấn Độ, nó được coi như “bộ bách khoa toàn thư‟‟. Nhưng tất cả các vấn đề đó không phải đều là sự thật. Bởi họ cho rằng huyền thoại và tưởng tượng luôn gắn chặt với nhau.
Khối sản phẩm tinh thần này tạo nên một thứ lịch sử vừa thật, vừa không thật, gọi chung là “lịch sử tưởng tượng”. Điều đó ta dễ hiểu, mỗi một dân tộc, một đất nước đều có cách suy nghĩ và phong cách riêng. Vì vậy người ấn Độ xưa nay vẫn tôn sùng và tu dưỡng theo những châm ngôn: “điều gì mình không thích thì đừng làm cho kẻ khác ” “chân lý, tự kìm chế khổ hạnh, lòng quảng đại, phi bạo lực, kiên trì, đạo đức - đó là những phương tiện thành công ” “đạo đức tôn hơn sự trường sinh và cuộc sống”. Tuy nhiên “lịch sử tưởng tượng” nhiều khi không giống với cuộc sống thực tại của xã hội, nhưng dù sao ta cũng biết được bản chất con người và mục đích của nhân dân của thời đại đặc biệt đó.
Sử thi ấn Độ cũng như Iliade, Odyssée đưa ra một cái nhìn tổng hợp hơn là phân tích, sau này tiểu thuyết, nhất là tiểu thuyết thế kỷ 19 của Phương Tây như Bà Bovary của Flaubert, Anna-Karenina của Tolstôi đi sâu vào phân tích tâm lý con người. Còn sử thi của thời đại mới <kiểu Chiến tranh và hoà bình của Tolstôi, Sông Đông êm đềm của Cholokhov >là kiểu sử thi kết hợp hài hoà giữa tổng hợp và phân tích, giữa biện chứng pháp lớn của lịch sử và biện chứng pháp nhỏ của tâm hồn >. Cũng như sử thi ấn Độ, sử thi Êđê cũng chứa đựng nhiều mặt, nhiều sự kiện của đời sống người Êđê như cưới hỏi, đi săn, bắt cá, làm rẫy, kể cả tục nối dây. những nhân vật trung tâm trong sử thi Êđê là những anh hùng chiến đấu vì sự giàu có, mạnh mẽ về tài năng, trí tuệ sáng ngời, luôn toả sáng vẻ đẹp phi thường và họ chiến đấu cho sự yên vui của thôn bản.
Ngoài 12 ra còn có đề tài lấy vợ và làm lụng. Thực ra đề tài chiến tranh của sử thi Êđê là nhằm mục đích hoà bình, no ấm cho mọi người. Sử thi Êđê ra đời khi mà đời sống của họ còn rất nguyên sơ, xã hội chưa có đẳng cấp, toàn bộ công xã sống trong tinh thần cộng đồng hoà hợp theo tinh thần đoàn kết, bình đẳng thương yêu nhau và đặc biệt là chưa hình thành nhà nước. Bên cạnh đó sử thi ấn Độ ra đời khi ấn Độ đã hình thành nhà nước, có trình độ văn hoá phát triển cao, có nhiều ngành nghề như luyện kim, trong xây dựng đã biết chế biến đá, gỗ và gạch ngói, biết chế biến nhiều loại thuốc trong đó có cả loại thuốc ướp được xác chết.
có nghĩa là tình hình công nghiệp, thủ công nghiệp, nội ngoại thương. phát triển cao. Những đặc trưng trên đã chi phối toàn bộ các phương diện, các thành tố của cấu trúc xã hội và ý thức xã hội. Khi đó con người chưa có ý thức tách khỏi cộng đồng của nó cả trong sinh hoạt thực tiễn lẫn trong ý thức.
“Cá nhân mang trong mình một phân số nào đó của lực lượng thể chất của tập thể, và đồng thời lại có được tất cả những hiểu biết, tất cả sức mạnh tinh thần của tập thể”. Thời kỳ có sự thống nhất giữa cá nhân và cộng đồng, sự thống nhất trong cơ cấu cộng đồng được phản ánh trong ý thức, và làm thành sự thống nhất nội tại của tâm lý, và tính cách con người. Theo Bielinxki, anh hùng ca chỉ xuất hiện trong thời đại chưa có sự phân rã của đời sống thành những yếu tố biệt lập. Phải có sự gắn kết giữa cá nhân và cộng đồng cả trong cách cảm, cách nghĩ và trong hành động.
Sự thống nhất này chính là đặc trưng tiêu biểu của đời sống cổ đại. Thậm chí nó còn nằm ở nhiều mặt, xét cả ở chiều sâu <trong tâm hồn con người>, chiều rộng <qui mô cộng đồng, tập thể > cả chiều dài <giữa quá khứ và hiện tại>. Đó chính là cơ sở tâm lý và xã hội cho sự hình thành, sự tồn tại và sức tác động mãnh liệt của những cảm hứng lịch sử, và cảm hứng nhân dân vốn là linh hồn của sử thi cổ đại. Sự giống nhau và khác nhau giữa sử thi và tiểu thuyết - sử thi.
Tiểu thuyết ra đời cách xa với sử thi, vì vậy cuộc sống được miêu tả trong tiểu thuyết hướng đến cuộc sống bình thường hàng ngày của quần chúng, những nhân vật trong tiểu thuyết sinh động như trong cuộc đời. Bằng sức mạnh của nghệ thuật điển hình hoá, tiểu thuyết nâng cái cá biệt, cái cụ thể lên tới chiều cao của lý tưởng và sự khái quát. Sức mạnh phi thường, tài năng, lý tưởng, khát vọng hy sinh cho dân tộc. vẫn được nối tiếp, và đổi mới trong hệ thống hình tượng nhân vật anh hùng.
Vẻ đẹp của hiện đại luôn hoà quyện với những phẩm chất sử thi được chắt lọc, tạo nên phẩm chất anh hùng trong thời đại mới, thời đại Hồ Chí Minh. Trong sử thi cổ đại thần linh chiếm giữ một vai trò quan trọng, trực tiếp tham gia vào diễn biến của đời sống con người và lý giải các hiện tượng của đời sống. Cái hiện thực bện kết với “lịch sử tưởng tượng”. Những ảnh hưởng của thế giới siêu thần không dẫn đến sự bóp méo thực tại và xoá đi chân lý nghệ thuật.
Đó là những lý tưởng, là khát vọng là niềm tin và sức mạnh tinh thần “nó trở thành một nhân tố sinh động trong đời sống của họ”, luôn luôn vực họ từ một cuộc sống sơ đẳng, từ kiếp đời nô lệ và xấu xa lên một lĩnh vực cao hơn. Vì vậy mà các nhân vật đã có sự hoá thân vào các hình tượng thần thoại. Mặc dù những suy nghĩ rất thô sơ, hoang tưởng nhưng đây là phương thức duy nhất mà thời đại nguyên thuỷ có để giải thích thế giới, đúc kết kinh nghiệm và biểu hiện nguyện vọng của nhân dân. Khi lịch sử tiến lên, xã hội có sự biến đổi thì cách nghĩ, cách cảm của người xưa cũng dần qua đi cùng với thời gian.