PHẦN MỞ ĐẦU I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Milan Kundera (sinh ngày 1 tháng 4 năm 1929 tại Brno, Cộng hoà Czech) là nhà văn Czech, hiện mang quốc tịch Pháp. Ông được coi là một trong những đại diện xuất sắc nhất của nền văn học mà trước đó đã được cả thế giới biết đến với tên tuổi của người khổng lồ Franz Kafka.Kundera đã tạo dấu ấn riêng cho mình với lối văn chương độc đáo trong hàng loạt các tiểu thuyết có giá trị: Lời đùa cợt (1967), Những mối tình nực cười (1968), Cuộc sống không ở đây (1969), Jacques và người thầy (1975), Điệu valse giã từ (1976), Sách cười và lãng quên (1979), Đời nhẹ khôn kham (1984), Sự bất tử (1990), Chậm rãi (1993), Căn cước (1997), Vô tri (2000), Màn (2005)… Những tác phẩm này chính là lời giải cho tiểu thuyết châu Âu, là minh chứng sống động của chính M.Kundera về một lịch sử tiểu thuyết châu Âu khác trên chính mảnh đất mà thể loại này đã sinh ra, bừng rộ với một di sản khổng lồ và hiện tại tưởng đang ở lúc diệt vong, kêu cứu.
Với một lối văn uyên bác, vừa giàu tính triết luận mà vẫn không kém phần lôi cuốn, tiểu thuyết của M.Kundera luôn có khả năng đánh thức tư tưởng, khai mở nhận thức giúp độc giả tỉnh táo, thông minh hơn! 1. “Căn cước” là tiểu thuyết thứ hai được viết bằng tiếng Pháp của M.Kundera, viết xong tại Pháp mùa thu 1996 và được xuất bản lần đầu tiên năm 1997. Bản Tiếng Việt do dịch giả Ngân Xuyên dịch từ tiếng Nga (Podlinnost - đăng trong tạp chí Inostrannaja Literature số 11/1998) đến với bạn đọc Việt Nam năm 1999 với cái tên “Bản nguyên” nằm trong bộ ba tiểu thuyết “Sự bất tử, Chậm rãi, Bản nguyên” của Nhà xuất bản Văn học và Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây. Đến năm 2020, dịch giả Ngân Xuyên đã chỉnh sửa bản dịch “Bản nguyên” năm 1999 và đồng thời thay đổi nhan đề thành “Căn cước”.
Tiểu thuyết được in riêng thành một cuốn sách do công ty văn hoá và truyền thông Nhã Nam phát hành gồm 174 trang khổ giấy 14x20,5cm. 1 2 Thuật ngữ “L’Itentite” trong tiếng Pháp hay “Identity” trong tiếng Anh có thể dịch sang tiếng Việt với nghĩa chung là cá tính, đặc tính, nét để nhận diện, nhận dạng hoặc nhận diện một ai đó hoặc một vật gì đó, có thể hiểu là bản sắc hoặc căn tính. Tên gọi “Căn cước” trong bản dịch của Ngân Xuyên năm 2020 vì thế là sát hơn với tên tác phẩm trong nguyên tác của M. “Căn cước” gồm 51 chương, qua những phức tạp li kì trong câu chuyện tình yêu giữa Chantal và người tình kém tuổi Jean Marc, tác phẩm đã đề cập đến vấn đề muôn thủa trong sáng tác của M.Kundera, đó là sự biến mất của bản thể người trong một thế giới hiện đại đầy nhập nhằng, biến động.
Khác với rất nhiều sáng tác thành công trước đó của chính nhà văn như “Sách cười và sự lãng quên”, “Đời nhẹ khôn kham”, “Sự bất tử”, “Chậm rãi’, tình huống truyện của “Căn cước” tưởng rất bình thường và ít ý nghĩa, mạch truyện phát triển tuyến tính, dễ nắm bắt; yếu tố triết luận được tiết chế, tối giản….Nhiều dấu ấn nghệ thuật từng làm nên tên tuổi Milan Kundera tưởng như mờ nhạt trong “Căn cước” khiến nhiều độc giả hoài nghi về giá trị của nó. Thế nhưng “Căn cước” hoàn toàn không phải là “thất bại” của M.Kundera như nhận định của Antoine de Gaudemar [95]. Lần theo dấu vết của kí ức được nhà văn khai thác triệt để ở cả hai nhân vật chính Chantal và Jean Marc, chúng tôi có thêm nhiều phát hiện thú vị về kĩ thuật sáng tác và khả năng khai thác đề tài hiện đại của M. Nói như nhà phê bình Nguyên Ngọc trong lời bạt cuốn “Milan Kundera – Tiểu thuyết: Sự bất tử, Chậm rãi, Bản nguyên” (NXB Văn học và Trung tâm văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, 1999) [34], với M.Kundera nếu mỗi tiểu thuyết là một phương thức cốt yếu để tồn tại của con người với tư cách là người, để giữ cho con người còn là con người toàn vẹn, kiên trì bản chất người cho con người trong thời hiện đại, thì “Căn cước” bằng vấn đề căn cốt nhất thể hiện bản chất người là kí ức đã làm nổi bật tất cả tài năng và quan điểm nghệ thuật của tiểu thuyết M.Lotman: “Tác phẩm nghệ thuật là một mô hình nhất định của thế giới, một thông báo nào đó bằng ngôn ngữ nghệ thuật, đơn giản 2 3 là không tồn tại ở bên ngoài thứ ngôn ngữ ấy, cũng như ở bên ngoài mọi thứ ngôn ngữ khác của sự giao tiếp xã hội” [44,98].
Sự khai mở từ hướng nghiên cứu văn bản, đặc biệt là kí hiệu học văn hoá giúp người đọc bám sát vào ngôn ngữ nghệ thuật văn bản, từ những kí hiệu thẩm mĩ được lặp đi lặp lại có thể mở cánh cửa tiếp cận diễn ngôn của tác phẩm. Là một nhà văn lưu vong, luôn mang theo mình ám ảnh quá khứ nên kí ức luôn là vấn đề căn cốt, nổi trội nhất khi nói về M. Đây cũng chính là hệ thống kí hiệu trung tâm lưu trữ nhiều dữ liệu văn hóa giúp người đến gần thế giới tinh thần phức tạp trong tiểu thuyết của ông. Đặc biệt khi nghiên cứu “Căn cước” chúng tôi phát hiện ra kí ức chính là ẩn mã quan trọng nhất.
Kí ức trong cặp nhị phân với lãng quên, tự nó đã gợi ra nhiều liên tưởng, liên quan đến vấn đề căn tính- căn cước. Kí ức là tiếng nói giá trị xác định căn cước của nhà văn, thể hiện rõ rệt trong văn học di dân. Từ những ý nghĩa mà thuật ngữ kí ức gợi ra, soi chiếu trong “Căn cước” của Kundera bằng phương pháp kí hiệu học văn hoá, chúng tôi thiết lập được một tập hợp hệ thống kí hiệu giàu tính biểu tượng, kết nối chặt chẽ, lôgic xuyên suốt toàn văn bản. Khai thác hệ thống kí hiệu này giúp chúng tôi khám phá các giá trị thẩm mĩ của “Căn cước” để xin được góp tiếng nói khẳng định tác phẩm là đỉnh cao nghệ thuật và tư tưởng tiểu thuyết của nhà văn “uyên bác nhất hành tinh” (Russel Banks).
Luận văn cũng kì vọng sẽ tiếp thêm hứng thú cho các nhà nghiên cứu tiếp tục đến với M.Kundera bằng con đường kí hiệu học văn hoá. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài kí ức trong “Căn cước” của Milan Kundera để tiến hành nghiên cứu. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2. Những nghiên cứu về tiểu thuyết M.Kundera là nhà văn có nhiều đóng góp xuất sắc cho nền văn học Czech nói riêng và nền văn học thế giới nói chung.
Ông nhiều lần là ứng cử viên sáng giá của giải Nobel văn chương. Các bảng xếp hạng văn học hàng đầu đều có tên ông. Độc giả yêu thích văn chương Kundera bởi mỗi trang viết 3 4 của ông đều được kết tinh bởi một trí tuệ mẫn tiệp. Đau đáu câu hỏi về sự tồn tại của cái tôi trong thế giới hiện sinh bộn bề, bằng một lối kiến tạo cấu trúc khác lạ, tích đọng vốn tri thức uyên thâm, Kundera bằng chính những tác phẩm của mình đã thiết lập một quan niệm mới mẻ về những khả năng phát triển của tiểu thuyết Châu Âu hiện đại.
Cùng với tiểu thuyết, các tiểu luận của M. Kundera cũng được đông đảo giới học thuật mê chuộng ở cách viết giản dị có phần thân ái và đặc biệt là tư tưởng triết luận sâu sắc. Với sự hấp dẫn và sức ảnh hưởng như thế, lẽ dễ hiểu vì sao M.Kundera là một tác giả được nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu. Chúng tôi xin điểm lại dưới đây một số các công trình nghiên cứu về tác phẩm của M.Kundera ở cả nước ngoài và Việt Nam.Nghiên cứu ở nước ngoài Với một phong cách hoàn toàn khác biệt và với tất cả những gì đã đóng góp cho văn chương thế giới, M.Kundera hoàn toàn xứng đáng là một trong những hiện tượng độc đáo đáng được chú ý một cách nghiêm túc trong văn học châu Âu hiện đại.
Các tiểu thuyết và tiểu luận về tiểu thuyết của ông đã thu hút sự quan tâm của đông đảo bạn đọc và trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều công trình có giá trị. Ở cấp độ vĩ mô, khi bao quát một cách có hệ thống nhiều tác phẩm của M.Kundera, các nhà nghiên cứu thường chú ý nhiều đến tác động của tiểu sử và bối cảnh xã hội tới nghệ thuật của tiểu thuyết Kundera, từ đó chỉ ra đặc trưng trong nghệ thuật tiểu thuyết từ góc độ thể loại; những tiêu điểm trong cách tân tiểu thuyết của M.Kundera; mối quan hệ giữa tiểu thuyết và triết học, tiểu thuyết và hiện sinh, khẳng định những đóng góp của nhà văn. Có thể kể đến bài viết “Sự mơ hồ của M.Kundera” của Roger Kimball trên tạp chí Tiêu chuẩn mới, tập 4 (tháng 1/1986)[84]; luận văn Thạc sĩ “Vai trò của trần thuật trong tiểu thuyết” của Mark Harper năm 1990 [88]; Aron Aji với cuốn sách “Milan Kundera và nghệ thuật của tiểu thuyết: phê bình tiểu luận” năm 1992[75]; chuyên luận “Thế giới tiểu thuyết của M.Kundera” của Kverolav Chvatik (giảng viên đại học Constance Pháp) viết năm 1995[94]; “Tiểu thuyết 4 5 chính trị của Kundera và O.Gopinathan Pillai (giảng viên đại học Kerala, Ấn Độ) viết năm 1996[90]; bài viết “Sứ mệnh của tiểu thuyết trong thời đại cáo chung của văn học” của Svetlanna Sherlaimova (Ngân Xuyên dịch, Tạp chí Nghiên cứu văn học số 6, 2005)[60]; luận án Tiến sĩ năm 2003 của Anneliese Saulin-Ryckewaert, Đại học Charles de Gaulle, Pháp [97]; công trình “Dịch Milan Kundera (chủ đề bản dịch)” của Michelle Woods năm 2006 [93]; luận văn Thạc sĩ “Milan Kundera: cá nhân, văn học và cách mạng” của Silvia Kadiu tại đại học Paris III-Sorbonne Nouvelle năm 2007[96]… Khi tìm hiểu những công trình nghiên cứu về Milan Kundera của các tác giả nước ngoài, chúng tôi nhận ra điều thú vị là các nhà nghiên cứu đã dành nhiều quan tâm cho vấn đề kí ức trong các tiểu thuyết của Kundera. Hana Pichova với chuyên luận : “Nghệ thuật của những kí ức di cư: Vladimir Nabokov và Milan Kundera” viết năm 2001[89] đã khám phá các chủ đề của kí ức và sự lưu đày trong một số tiểu thuyết chọn lọc của Vladimir Nabokov và M.
Từ đó Pichova lập luận, nhấn mạnh rằng với cả hai nhà văn kí ức cá nhân và văn hóa đóng vai trò như một phương tiện sáng tạo để vượt qua nỗi mất quê hương của người nghệ sĩ và người lưu vong.