ĐẶT VẤN ĐỀ Sử dụng thuốc thiếu hiệu quả, bất hợp lý nói chung và trong bệnh viện nói riêng đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia. Theo một số nghiên cứu, chi phí mua thuốc chiếm khoảng 30-40 % ngân sách ngành Y tế của nhiều nước và phần lớn số tiền đó bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả. Các nghiên cứu đã cho thấy tình trạng sử dụng thuốc bất hợp lý xảy ra tại nhiều nước trên thế giới. Tại các nước đang phát triển, 30-60% bệnh nhân sử dụng thuốc kháng sinh gấp 2 lần so với tình trạng cần thiết và hơn một nữa số ca viêm đường hô hấp trên điều trị kháng sinh không hợp lý.
Sự cạnh tranh giữa thuốc nhập khẩu với thuốc được sản xuất trong nước. Bên cạnh đó, còn rất nhiều bất cập trong sử dụng thuốc tại các bệnh viện như: sử dụng các thuốc không thiết yếu, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu có giá thành cao, lạm dụng sử dụng nhiều thuốc kháng sinh, vitamin,… Sử dụng thuốc không hợp lý không chỉ ảnh hưởng tới công tác khám chữa bệnh mà còn là nguyên nhân làm tăng chi phí đáng kể cho người bệnh, tạo gánh nặng cho nền kinh tế và xã hội. Để hạn chế cho tình trạng trên, Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo các quốc gia thành lập Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) tại các bệnh viện. HĐT&ĐT là hội đồng được thành lập nhằm đảm bảo tăng cường độ an toàn và hiệu quả sử dụng thuốc trong các bệnh viện.
Thành viên của HĐT&ĐT bao gồm các chuyên gia nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua việc xác định xem loại thuốc nào thiết yếu cần cung ứng, giá cả và sử dụng hợp lý an toàn. Ngày 08 tháng 8 năm 2013, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định về tổ chức hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện. 6 Để góp phần tăng cường sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả cho Bệnh viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, tôi tiến hành đề tài: "Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh năm 2020”. Với 02 mục tiêu nghiên cứu sau: 1.
Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Hóc Môn năm 2020 theo một số chỉ tiêu; 2. Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Hóc Môn năm 2020 theo phương pháp ABC, VEN. Từ kết quả nghiên cứu, đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm góp phần quan trọng trong việc xây dựng DMT sát với tình hình thực tế, mang lại tính chính xác cao, góp phần trong việc sử dụng thuốc hiệu quả, đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng, khả năng cung ứng và có giá cả phù hợp nhằm giảm tới mức thấp nhất chi phí cho người bệnh. Từ đó tăng cường sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả.
Các khái niệm về thuốc Theo Luật dược 105/2016/QH13 định nghĩa: Thuốc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người bao gồm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm [35]. Thuốc hóa dược: là thuốc có chứa dược chất đã được xác định thành phần, công thức, độ tinh khiết và đạt tiêu chuẩn làm thuốc bao gồm cả thuốc tiêm được chiết xuất từ dược liệu, thuốc có kết hợp dược chất với các dược liệu đã được chứng minh về tính an toàn và hiệu quả [35]. Thuốc dược liệu là thuốc có thành phần từ dược liệu và có tác dụng dựa trên bằng chứng khoa học, trừ thuốc cổ truyền quy định [35]. Thuốc cổ truyền (bao gồm cả vị thuốc cổ truyền) là thuốc có thành phần dược liệu được chế biến, bào chế hoặc phối ngũ theo lý luận và phương pháp của y học cổ truyền hoặc theo kinh nghiệm dân gian thành chế phẩm có dạng bào chế truyền thống hoặc hiện đại [35].
Thuốc generic là thuốc có cùng dược chất, hàm lượng, dạng bào chế với biệt dược gốc và thường được sử dụng thay thế biệt dược gốc [35]. Biệt dược gốc là thuốc đầu tiên được cấp phép lưu hành trên cơ sở có đầy đủ dữ liệu về chất lượng, an toàn, hiệu quả [35]. DMT sử dụng trong bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động, có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn, hiệu quả. DMT bệnh viện được xây dựng hàng năm và có thể bổ sung hoặc loại bỏ thuốc trong các kỳ họp của Hội đồng thuốc và điều trị.
Các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài Luật Dược số 105/2016/QH13 ngày 06/4/2016 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Dược quy định về chính sách của Nhà 8 nước về dược và phát triển công nghiệp dược; hành nghề dược; kinh doanh dược. Trong Luật Dược có một số điều quy định sử dụng thuốc sản xuất trong nước thay thế thuốc nhập khẩu. Điều 7 Luật dược quy định một số chính sách nhà nước về dược bao gồm: đối với việc đấu thầu thuốc không chào thuốc nhập khẩu thuộc danh mục do BYT ban hành trên cơ sở nhóm tiêu chí kỹ thuật khi thuốc sản xuất trong nước đáp ứng về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp, ưu tiên mua thuốc generic [35] Nghị định số 54/2017/NĐ-CP ngày 08/05/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật dược trong các lĩnh vực như kinh doanh dược; xuất khẩu, nhập khẩu thuốc; đăng ký lưu hành dược liệu, tá dược, vỏ nang; đánh giá cơ sở sản xuất tại nước ngoài; thẩm quyền, hình thức, thủ tục thu hồi nguyên liệu làm thuốc, biện pháp xử lý nguyên liệu làm thuốc bị thu hồi; hồ sơ, trình tự thủ tục và thẩm quyền cấp giấy xác nhận nội dung thông tin; quảng cáo thuốc và các biện pháp quản lý giá thuốc [14].
Thông tư số 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định tổ chức và hoạt động của Khoa Dược Bệnh viện. Tại điều 2 của Thông tư có quy định rõ chức năng của khoa Dược như sau: “Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện. Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý”. Khoa Dược có vai trò chủ đạo, đầu mối trong việc quản lý, sử dụng thuốc tại bệnh viện [4].
Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/08/2013 của Bộ Y tế Quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện. Thông tin cũng hướng dẫn cụ thể các phương pháp phân tích áp dụng để phát hiện các vấn đề sử dụng thuốc, nguyên nhân và giải pháp [6]. 9 Thông tư số 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế [7]. Thông tư số 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 về danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành [8].
Thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11/7/2019 quy định đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập [10]. Thông tư số 15/2020/TT-BYT ngày 10/8/2020 ban hành danh mục thuốc đấu thầu, danh mục thuốc đấu thầu tập trung, danh mục thuốc được áp dụng hình thức phán giá [11]. Thông tư 23/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh. Theo đó, bệnh viện căn cứ vào tình trạng người bệnh, mức độ bệnh lý để lựa chọn đường dùng thuốc thích hợp.
Bệnh nhân chỉ dùng đường tiêm khi không uống được hoặc khi sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng yêu cầu điều trị [10]. Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc 1. Phương pháp phân tích ABC Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách. Đây là phương pháp tiếp cận hiệu quả để quản lý thuốc dựa trên nguyên lý Pareto “số ít sống còn và số nhiều ít có ý nghĩa”.
Theo lý thuyết Pareto: 10% theo chủng loại của thuốc sử dụng 70% ngân sách thuốc (nhóm A). Nhóm tiếp theo: 20% theo chủng loại sử dụng 20% ngân sách (nhóm B), nhóm còn lại (nhóm C): 70% theo chủng loại nhưng chỉ sử dụng 10% ngân sách. Phân tích ABC có thể ứng dụng các số liệu sử dụng thuốc cho chu kỳ một năm hoặc ngắn hơn để ứng dụng cho một hoặc nhiều đợt đấu 10 thầu, từ các kết quả phân tích thu được, các giải pháp can thiệp được đưa ra nhằm điều chỉnh ngân sách thuốc cho một hoặc nhiều năm tiếp theo [6]. Phân tích ABC là một công cụ mạnh mẽ trong lựa chọn, mua và cấp phát và sử dụng thuốc hợp lý để có được bức tranh chính xác và khách quan về sử dụng ngân sách thuốc.
Sau khi tiến hành phân tích DMT sử dụng được phân loại: Hạng A: gồm những sản phẩm chiếm 75-80% tổng giá trị tiền và chiếm 10% - 20% tổng sản phẩm; Hạng B: gồm những sản phẩm chiếm 15%-20% tổng giá trị tiền và chiếm 10% - 20% tổng sản phẩm; Hạng C: gồm những sản phẩm chiếm 5% - 10% tổng giá trị tiền và chiếm 60% – 80% tổng sản phẩm. Phân tích ABC có nhiều lợi ích: trong lựa chọn thuốc, phân tích được thuốc nhóm A có chi phí cao, các thuốc này có thể được thay thế bởi các thuốc rẻ hơn; trong mua hàng, dùng để xác định tần suất mua hàng: mua thuốc nhóm A nên thường xuyên hơn, với số lượng nhỏ hơn, dẫn đến hàng tồn kho thấp hơn, bất kỳ giảm giá của các loại thuốc nhóm A có thể dẫn đến tiết kiệm đáng kể ngân sách. Do nhóm A chiếm tỷ trọng ngân sách lớn nên việc tìm kiếm nguồn chi phí thấp hơn cho nhóm A như tìm ra dạng liều hoặc nhà cung ứng rẻ hơn là rất quan trọng.