CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Một số quy định về đơn thuốc và kê đơn. Đơn thuốc Đơn thuốc là tài liệu chỉ định dùng thuốc của bác sỹ cho người bệnh, là cơ sở pháp lý cho việc chỉ định dùng thuốc,bán thuốc và cấp thuốc theo đơn. Bác sỹ có thể chỉ định điều trị cho người bệnh vào đơn thuốc (theo mẫu quy định của BYT) hoặc vào sổ y bạ, sổ điều trị bệnh mạn tính [1],[5].
Đơn thuốc là tổng hợp các loại thuốc, bao gồm cả thuốc bắt buộc phải bán theo đơn và những thuốc có thể mua tự do. Đó là một “y lệnh” hướng dẫn cho các bệnh nhân ngoại trú và nội trú cần uống, bôi, thoa, phun, dán hay tiêm truyền. Đơn thuốc liệt kê tên thuốc, số lượng, liều lượng, số lần dùng thuốc trong ngày, thời điểm dùng thuốc (trước, trong hay sau bữa ăn). Một đơn thuốc được xem là chuẩn phải đạt được các yêu cầu: hiệu quả chữa bệnh cao, an toàn trong dùng thuốc và tiết kiệm [18].
Những quy định về đơn thuốc ngoại trú 1. Nội dung của một đơn thuốc Trên thế giới không có một tiêu chuẩn thống nhất nào về kê đơn thuốc và mỗi quốc gia có quy định riêng phù hợp với điều kiện của đất nước mình. Tuy nhiên, yêu cầu quan trọng đó là đơn thuốc phải thật rõ ràng. Đơn thuốc phải hợp lệ và chỉ định chính xác thuốc phải sử dụng.
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới thì một đơn thuốc đầy đủ bao gồm các nội dung sau: Tên, địa chỉ của người kê đơn, số điện thoại (nếu có). Ngày, tháng kê đơn. Tên gốc của thuốc, hàm lượng. Dạng thuốc, tổng lượng thuốc.
Hướng dẫn sử dụng, cảnh báo. 3 Luan van thac si Tên, địa chỉ, tuổi của bệnh nhân. Chữ ký của người kê đơn [18] 1. Quy định về ghi đơn thuốc Theo điều 7 của quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú được ban hành kèm theo quyết định số 04/2008/QĐ – BYT ngày 01/02/2008 quy định về ghi đơn thuốc như sau: Kê đơn thuốc vào mẫu đơn, mẫu sổ quy định kèm theo Quy chế này.
Ghi đủ các mục in trong đơn, chữ viết rõ ràng, dễ đọc, chính xác. Địa chỉ người bệnh phải ghi chính xác số nhà, đường phố hoặc thôn, xã. Với trẻ em dưới 72 tháng tuổi: ghi số tháng tuổi và ghi tên bố hoặc mẹ. Viết tên thuốc theo tên chung quốc tế trong ngoặc đơn (trừ trường hợp thuốc có nhiều hoạt chất).
Ghi tên thuốc, hàm lượng, số lượng, liều dùng, cách dùng của mỗi thuốc. Số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa. Số lượng thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc viết thêm số 0 phía trước nếu số lượng chỉ có một chữ số. Nếu có sửa chữa đơn phải ký, ghi rõ họ tên, ngày bên cạnh.
Gạch chéo phần đơn còn giấy trắng. Điều kiện của người kê đơn thuốc Theo điều 3 của Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú do BYT Việt Nam ban hành kèm Quyết định số 04/2008/TT-BYT ngày 01/02/2008 quy định điều kiện của người kê đơn như sau: 4 Luan van thac si Đang hành nghề tại cơ sở khám, chữa bệnh hợp pháp có bằng tốt nghiệp Đại học Y và được người đứng đầu cơ sở phân công khám, chữa bệnh. Đối với các tỉnh có vùng núi, vùng sâu, vùng cao, hải đảo xa xôi, vùng khó khăn và những nơi chưa có bác sỹ, Sở Y tế có văn bản ủy quyền cho Trưởng Phòng Y tế huyện chỉ định y sĩ của Trạm Y tế thay thế cho phù hợp với tình hình địa phương [1]. Về kê đơn tốt Kê đơn là mệnh lệnh, nhật ký ghi lại việc điều trị.
Kê đơn tốt là sự chỉ định thuốc cho điều trị dựa vào quá trình suy luận logic trên những thông tin chính xác và khách quan. Kê đơn tốt phải đảm bảo sự cân bằng giữa các yếu tố hợp lý, an toàn và kinh tế, tôn trọng sự lựa chọn của bệnh nhân [1]. Đơn thuốc tốt Một đơn thuốc tốt phải đáp ứng đầy đủ các thông tin tiêu chuẩn yêu cầu cho một đơn thuốc gồm có: - Nội dung của một đơn thuốc. - Cách ghi nội dung của một đơn thuốc và cách bố trí các mục ghi trong đơn theo quy định của từng quốc gia [1].
Những yêu cầu về kê đơn tốt Theo hướng dẫn thực hành kê đơn thuốc tốt của Tổ chức Y tế Thế giới, để thực hiện được quá trình kê đơn thuốc tốt, người thầy thuốc cần phải tuân thủ theo quá trình thực hiện kê đơn, điều trị hợp lý gồm 6 bước: Bước 1: Xác định vấn đề bệnh lý của bệnh nhân. Quá trình này cần được thực hiện một cách thận trọng dựa trên sự quan sát kỹ lưỡng của bác sỹ, mô tả bệnh của bản thân bệnh nhân, tiền sử bệnh, X-quang, kết quả xét nghiệm và các thăm khám khác. 5 Luan van thac si Bước 2: Xác định mục tiêu điều trị. Việc xác định mục tiêu điều trị giúp người thầy thuốc tránh được việc sử dụng nhiều thuốc không cần thiết, tập trung vào bệnh lý của bệnh nhân.
Bước 3: Xác định phương pháp điều trị đã được chứng minh hiệu quả, an toàn, kinh tế và phù hợp với bệnh nhân nhất trong số các phương án điều trị khác nhau, kể cả phương án không dùng thuốc. Thẩm định lại sự phù hợp của thuốc đã lựa chọn cho bệnh nhân. Sự phù hợp được đánh giá trên 3 khía cạnh: (1) Sự phù hợp giữa tác dụng và dạng dùng của thuốc với bệnh nhân, (2) Sự phù hợp của liều dùng hàng ngày, (3) Sự phù hợp của quá trình điều trị. Đối với mỗi khía cạnh cần phải kiểm tra mục đích điều trị, hiệu quả (chỉ định và sự liên quan đến liều dùng) và an toàn (chống chỉ định, tương tác thuốc, nhóm thuốc có nguy cơ cao) có được đảm bảo.
Bước 4: Bắt đầu điều trị.Cần đưa ra những chỉ dẫn cho bệnh nhân.Ví dụ như viết một đơn thuốc rõ ràng, cẩn thận, ngắn gọn nhưng dễ hiểu cho bệnh nhân. Bước 5: Cung cấp thông tin, hướng dẫn sử dụng và cảnh báo cho bệnh nhân. Cần phải cung cấp cho bệnh nhân ít nhất các thông tin sau: Các tác dụng của thuốc; hướng dẫn sử dụng (cách dùng, thời gian dùng, bảo quản ….); cảnh báo (không nên dùng khi nào, liều tối đa, thời gian điều trị đầy đủ); hẹn gặp lần tới, xác minh mọi thông tin có rõ ràng đối với bệnh nhân. Bước 6: Giám sát điều trị.
Nếu như bệnh được chữa khỏi thì ngừng quá trình điều trị, hoặc nếu phương pháp điều trị này có hiệu quả nhưng bệnh vẫn chưa khỏi hẳn thì cần xem lại có tác dụng phụ nào nghiêm trọng hay không. Nếu có thì cân nhắc lại liều dùng hoặc chọn thuốc khác, nếu không thì tiếp tục điều trị. Trường hợp bệnh không được chữa khỏi thì phải nghiên cứu lại tất cả các bước trên [18]. 6 Luan van thac si Ngoài ra, để đảm bảo một đơn thuốc hợp lý cũng cần phải lưu ý đến tương tác thuốc, vì khi sử dụng đồng thời hai hay nhiều thuốc có tương tác với nhau, tác dụng của thuốc này có thể bị thay đổi bởi thuốc khác, một số trường hợp có thể làm tăng độc tính của thuốc dẫn tới hậu quả bất lợi cho người dùng.
Trong một số trường hợp kết hợp hai thuốc tương tác để làm tăng hiệu quả của thuốc cũng nên được áp dụng để giảm liều của từng thuốc đơn lẻ [3]. Thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú tại các bệnh viện ở nước ta trong những năm gần đây 1. Thực trạng việc thực hiện các quy chế kê đơn thuốc ngoại trú Kê đơn thuốc là một việc làm thường xuyên, có tính chuyên nghiệp của bác sỹ. Tuy nhiên hoạt động này là một hoạt động trong những quy định mà BYT yêu cầu nghiêm ngặt nhất đối với thầy thuốc.
Thế nhưng trên thực tế, một trong những lỗi thường gặp nhất ở thầy thuốc lại vẫn liên quan đến kê đơn thuốc. Khi kê đơn, nhầm lẫn về liều lượng, đặt nhầm dấu thập phân ở hàm lượng thuốc, không nhận định đúng về dạng hàm lượng thuốc, nhầm lẫn về tần suất dùng thuốc trong ngày, viết chữ quá khó đọc, không thận trọng khi dùng các chữ viết tắt, không chú ý đến tương tác thuốc, không chú ý điều chỉnh liều lượng, không quan tâm đến tiền sử bệnh của người dùng thuốc [11]. Về việc thực hiện qui chế kê đơn trong điều trị ngoại trú, theo kết quả khảo sát BV Phổi TW năm 2009, do chưa ứng dụng phần mềm trong kê đơn trên máy tính nên tỷ lệ thực hiện theo quy chế về ghi các thông tin về BN và thông tin về thuốc chưa là cao. Có 35% đơn khảo sát ghi rõ, đầy đủ các thông tin về BN như số nhà, đường phố và thôn, xã; 100% ghi đầy đủ họ tên BN; chẩn đoán bệnh cho BN nhưng còn viết tắt nhiều; 62% số đơn ghi tên thuốc theo tên hoạt chất, 83% số đơn ghi đầy đủ, hàm lượng, nồng độ, số lượng thuốc, 99% số đơn ghi đầy đủ HDSD trong đơn.
100% số đơn ghi đầy đủ liều dùng, 95% số đơn ghi thời điểm dùng thuốc [1]. Một nghiên cứu khác ở BV Tim Hà Nội năm 2010 cũng cho kết quả khá 7 Luan van thac si tương đồng với 43,5% số đơn ghi rõ ràng, đầy đủ địa chỉ BN chính xác đến số nhà, đường phố hoặc thôn, xã; 100% số đơn ghi đầy đủ họ tên BN; 100% số đơn ghi đầy đủ chẩn đoán bệnh nhưng viết tắt khá nhiều, 95% số đơn ghi liều dùng, thời gian dùng nhưng đa số chưa có hướng dẫn cụ thể [13]. Hiện nay, nhiều BV đã ứng dụng phần mềm trong kê đơn nên đã thực hiện kê đơn điện tử cũng giảm được nhiều sai sót trong kê đơn. Một nghiên cứu tại BV Nhân dân 115 cho thấy việc áp dụng kê đơn điện tử đã cải thiện rõ rệt chất lượng kê đơn tại các khoa.
Số đơn ghi thiếu thông tin về BN đã giảm từ 98% xuống còn 33,6%, các thông tin về họ, tên, tuổi, giới tính giảm từ 96,25% đến không còn (0%). Các sai sót về ghi chỉ định, tên hoạt chất và tên thuốc đã được hạn chế tối đa (0%) khi áp dụng kê đơn điện tử. Tỷ lệ đơn ghi thiếu thông tin về thời điểm dùng thuốc giảm từ 54% xuống còn 33,5% [23]. Theo nghiên cứu tại BV Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011, về việc thực hiện kê đơn điện tử cũng giảm được nhiều sai sót trong kê đơn.