Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH THIẾT KẾ PHẦN MỀM QUẢN LÝ BÁN HÀNG 1. Một số khái niệm về phần mềm quản lý bán hàng 1. Phần mềm là gì? Theo [13], thì: “Phần mềm máy tính (tiếng Anh: Computer Software) hay gọi tắt là Phần mềm (Software) là một tập hợp những câu lệnh hoặc chỉ thị (Instruction) được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo một trật tự xác định, và các dữ liệu hay tài liệu liên quan nhằm tự động thực hiện một số nhiệm vụ hay chức năng hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó.” “Phần mềm thực hiện các chức năng của nó bằng cách gửi các chỉ thị trực tiếp đến phần cứng (hay phần cứng máy tính, Computer Hardware) hoặc bằng cách cung cấp dữ liệu để phục vụ các chương trình hay phần mềm khác.” “Phần mềm là một khái niệm trừu tượng, nó khác với phần cứng ở chỗ là "phần mềm không thể sờ hay đụng vào", và nó cần phải có phần cứng mới có thể thực thi được.
Các thành phần của phần mềm? Theo [5], thì: “Phần mềm bao gồm một tập hợp các thành phần: “ Các tài liệu phân tích- thiết kế, tài liệu hướng dẫn cài đặt và sử dụng phần mềm, tài liệu bảo trì, nâng cấp”; “ Cơ sở dữ liệu( CSDL) được cài đặt trong môi trường thích hợp ( hệ quản trị dữ liệu)”; “Các dòng lệnh( chương trình máy tính) khả thi trên máy tính, phù hợp với hệ quản trị dữ liệu đã cài đặt CSDL”; “Các tiện ích số hóa đi kèm hỗ trợ cho chương trình máy tính”. “Phần mềm- nhân tố đánh giá sự khác biệt, điều này thể hiện ở chỗ: Tính đầy đủ và đúng thời hạn của thông tin do phần mềm cung cấp (và các CSDL liên quan) dẫn đến sự khác biệt giữa một công ty này với các đối thủ cạnh tranh. Thiết kế và “tính thân thiện con người” của sản phầm phần mềm cũng làm khác biệt nó với các sản phẩm cạnh tranh có cùng chức năng tương tự khác. Sự thông minh và chức năng do phần mềm được nhúng trong đó đưa ra thường làm khác biệt 2 sản phẩm tiêu thụ hay công nghiệp tương tự nhau.
Như vậy, chính phần mềm tạo ra sự khác biệt đó.Bán hàng là gì? Theo [13], Bán hàng được hiểu là: “Bán hàng được cung cấp để trao đổi một món giá trị cho một món khác. Món thứ nhất của giá trị đang được cung cấp có thể là hữu hình hoặc vô hình. Món thứ hai, thường là tiền, thường được thấy bởi người bán như là có giá trị bằng hoặc lớn hơn món đang được chào bán. Quản lý bán hàng là gì? Theo [13], thì “Quản lý bán hàng: Có thể được định nghĩa là hoạt động quản trị của những người hoặc những nhóm người thực sự thuộc lực lượng bán hàng hoặc gồm những người liên quan đến hoạt động liên quan như: Giao hàng Dịch vụ khách hàng Đội trưng bày Nhóm kiểm toán bán hàng Tiếp thị thương mại Bảo hành, bảo trì hoặc những người hỗ trợ trực tiếp cho lực lượng bán hàng nhắm triển khai việc cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp trên cơ sở chiến lược kinh doanh, nguồn lực của doanh nghiệp và môi trường kinh doanh có liên quan.
Các hoạt động của quản lý bán hàng? Theo [13] thì “Những công việc của quản lý bán hàng bao gồm:Thiết lập chiến lược phân phối. Thiết lập tổ chức lực lượng bán hàng. Thiết lập chính sách bán hàng. Lập kế hoạch bán hàng.
Quản lý lực lượng bán hàng, khách hàng. Huấn luyện nâng cao kỹ năng. Đo lường, đánh giá hiệu quả bán hàng. Một số khái niệm phân tích thiết kế phần mềm quản lý bán hàng 1.
Phân tích yêu cầu là gì? Theo [13] thì: “Trong các ngành kỹ thuật hệ thống và kỹ nghệ phần mềm, phân tích yêu cầu là công việc bao gồm các tác vụ xác định các yêu cầucho một hệ thống mới hoặc được thay đổi, dựa trên cơ sở là các yêu cầu (có thể mâu thuẫn) mà những người có vai trò quan trọng đối với hệ thống, chẳng hạn người sử dụng, đưa ra. Việc phân tích yêu cầu có ý nghĩa quan trọng đối với thành công của một dự án. Thiết kế là gì? Theo [5], thì thiết kế là “Là bước đầu tiên trong giai đoạn phát triển cho bất kỳ sản phẩm hay hệ thống công nghệ nào. Theo Pressman, 2001: “Thiết kế là tiến trình áp dụng nhiều kỹ thuật và nguyên lý với mục đích xác định ra một thiết bị, một tiến trình hay một hệ thống đủ chi tiết để cho phép thực hiện nó về mặt vật lý.” “Mục tiêu thiết kế là để tạo ra một mô hình hay biểu diễn của một thực thể mà sau này sẽ được xây dựng.
Thiết kế là một quá trình sáng tạo, đòi hỏi kinh nghiệm và sự tinh nhanh của người thiết kế. Thiết kế phải thực hành và học bằng kinh nghiệm, bằng khảo sát các hệ đang tồn tại ngoài việc học bằng sách vở. Thiết kế cần mô tả sao cho mức có thể làm cơ sở cho thực hiện chi tiết, làm phương tiện liên lạc giữa các nhóm thiết kế các hệ con và cung cấp đầy đủ thông tin cho những người bảo trì hệ 7 Luan van thống. Người ta thường dùng đồ thị, các ngôn ngữ mô tả chương trình, văn bản không hình thức để tạo dựng các tài liệu thiết kế.
Thiết kế phần mềm là gì? Theo [5], thì thiết kế phần mềm là “Một tiến trình chuyển hóa các yêu cầu thành một biểu diễn phần mềm. Thiết kế phần mềm là một quá trình, từ biểu diễn mô tả theo quan điểm tổng thể về phần mềm đến việc làm mịn tiếp sau dẫn tới một biểu diễn thiết kế rất gần với chương trình gốc.Thiết kế phần mềm là một mô hình của thế giới thực mô tả các thành phần phần mềm và các mối quan hệ của chúng với nhau. Thiết kế phần mềm nằm ở trung tâm kỹ thuật của tiến trình kỹ nghệ phần mềm và được áp dụng bất kể tới khuôn cảnh phát triển được sử dụng. Một khi các yêu cầu phần mềm đã được phân tích và đặc tả thì thiết kế phần mềm là một trong ba hoạt động kỹ thuật – thiết kế, lập trình, kiểm thử- những hoạt động cần để xây dựng và kiểm chứng phần mềm.Từng hoạt động này biến đổi thông tin theo cách cuối cùng tạo ra phần mềm máy tính hợp lệ.
Các phương pháp thiết kế phần mềm Theo [2] thì: “Có nhiều kỹ thuật thiết kế chương trình: Hướng tiến trình(process): Kỹ thuật thiết kế cấu trúc điều khiển. Hướng cấu trúc điều khiển(data): Kỹ thuật thiết kế cấu trúc dữ liệu. Hướng sự vật/ đối tượng(object): Kỹ thuật thiết kế hướng đối tượng. Một số khái niệm cơ bản về phương pháp phân tích thiết kế hướng đối tượng Với đề tài: “Phân tích thiết kế phần mềm quản lý bán hàng của Công ty Cổ phần Công nghệ Điều hòa Sao Viêt.” Em lựa chọn phương pháp phân tích thiết kế phần mềm hướng đối tượng.
Một số khái niệm cơ bản về phương pháp phân tích thiết kế phần mềm hướng đối tượng như sau: Theo [2], thì “Mô hình là một dạng trừu tượng hóa của một hệ thống thực. Nói chi tiết hơn, thì mô hình là một hình ảnh (một biểu diễn) của một hệ thống thực, được diễn tả: Ở một mức độ trừu tượng hóa nào đó, Theo một quan điểm (hay một góc nhìn) nào đó, Bởi một hình thức diễn tả hiểu được( văn bản, phương trình, bảng, đồ thị v. Khái niệm mô hình hóa thường được sử dụng đồng nghĩa với phân tích, đó là việc thực hiện tách hệ thống thành các phần tử đơn giản để dễ hiểu. Trong khoa học máy tính, mô hình hóa bắt đầu từ mô tả vấn đề, sau đó là mô tả giải pháp vấn đề.
Các hoạt động này còn được gọi là phân tích và thiết kế. Khi thu 8 Luan van thập yêu cầu cho hệ thông, ta phải tìm ra nhu cầu tác nghiệp của người dùng và ánh xạ chúng thành yêu cầu phần mềm sao cho đội ngũ phát triển phần mềm hiểu và sử dụng được chúng. Tiếp theo là khả năng phát sinh mã trình từ các yêu cầu này, đồng thời đảm bảo rằng các yêu cầu phải phù hợp với mã trình vừa phát sinh và dễ dàng chuyển đổi mã trình ngược lại thành yêu cầu. Tiến trình này được gọi là mô hình hóa.” Các phương pháp mô hình hóa.
“Ta hiểu phương pháp mô hình hóa là sự kết hợp của ba thành phần: Thứ nhất là “Một ký pháp (notation) bao gồm một số khái niệm và mô hình. Mỗi phương pháp đều phải dựa trên một số không nhiều các khái niệm cơ bản và sử dụng một số mô hình diễn tả các khái niệm trên, kèm với các kỹ thuật triển khai hay biến đổi các mô hình đó.” Thứ hai là “Một tiến trình (process) bao gồm các bước đi lần lượt, các hoạt động cần làm, các sản phẩm qua từng giai đoạn (như tư liệu, mô hình.), cách điều hành tiến trình đó và các đánh giá chất lượng của các kết quả thu được.” Thứ ba là “ Một (hay một số) công cụ hỗ trợ (CASE). Đó là các phần mềm hỗ trợ cho quá trình mô hình hóa, thường có các khả năng như sau: Sản sinh các mô hình và biểu đồ; Biến đổi và điều chỉnh nhanh các mô hình và biểu đồ; Kiểm tra cú pháp, sự chăt chẽ, sự đầy đủ; Kiểm thử và đánh giá; Mô phỏng và thực hiện mô hình.” “Phương pháp (method). Phương pháp (hay phương thức) là cách thức cấu trúc các suy nghĩ và hành động của con người.
Nó cho biết chúng ta phải làm cái gì, làm như thế nào, làm khi nào và tại sao phải làm như vậy để hình thành hệ thông phần mềm. Phân tích là tách, chia nhỏ tổng thể thành các phần để tìm ra đặc tính, chức năng, quan hệ… của chúng (từ điển Webster’s). Khái niệm phân tích trong tiếp cận hướng đối tượng là thực hiện nghiên cứu lĩnh vực vấn đề, dẫn tới đặc tả hành vi quan sát từ ngoài và các thông báo nhất quán, hoàn chỉnh, khả thi của những cái cần. Phân tích hướng đối tượng tập trung vào tìm kiếm, mô tả các đối tượng (khái niệm) trong lĩnh vực vấn đề.
Thí dụ hệ thống thư viện có khái niệm Sách, Thư viện …” “Thiết kế. Là tập tài liệu kỹ thuật toàn bộ, gồm có bản tính toán, bản vẽ… để có thể theo đó mà xây dựng công trình, sản xuất thiết bị, làm sản phẩm. Khái niệm phân tích trong tiếp cận hướng đối tượng là thực hiện đặc tả các hành vi bên ngoài, bổ sung chi tiết nếu cần thiết để cài đặt hệ thống trên máy tính, bao gồm tương tác người - máy, quản lý nhiệm vụ, quản lý dữ liệu.