mở đầu một thời kỳ đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây cũng là thời kỳ mở cửa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ quan liêu bao cấp. Có thể nói, nhờ công cuộc đổi mới mà Đảng ta đã tiến hành hơn 20 năm qua nên mọi mặt của đất nước đã được thay đổi: Chính trị ổn định, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được nâng lên khá cơ bản, văn hoá xã hội cũng vì thế có được sự phát triển 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mạnh mẽ và đổi mới sâu sắc. Tiền đề văn hoá - thẩm mĩ Đường lối đổi mới toàn diện mà Đại hội VI đề ra đã mở đường cho sự đổi mới trong văn học.
Lúc này, người nghệ sĩ đã dám nhìn thẳng vào hiện thực cuộc sống, có quyền nói thẳng, nói thật các vấn đề miễn là nhà văn phải đứng trên lập trường quan điểm của Đảng khi phản ánh vấn đề hiện thực. Mặt khác hiện thực cuộc sống thay đổi đã dẫn đến nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu thưởng thức văn của công chúng cũng thay đổi. Trong hoàn cảnh đất nước hoà bình, công chúng hôm nay không dễ gì bằng lòng với những tác phẩm văn học dễ giãi một chiều, mà đòi hỏi nhà văn viết về tác phẩm toàn diện hơn, sâu sắc hơn. Cuộc sống hiện thực bây giờ không chỉ là chiến đấu và lao động như trong văn học 1945 - 1975 nữa mà là mọi vấn đề bề bộn, đa dạng, phức tạp của cuộc sống xã hội.
Chính vì vậy, bạn đọc của chúng ta muốn hiểu thực tại không chỉ có thế mà người đọc muốn hiểu toàn bộ hiện thực cuộc sống với bộ mặt đa diện, đa chiều của nó, cũng như con người trong mối quan hệ nhiều chiều, phức tạp chứ không phải theo lối miêu tả xuôi chiều đơn giản. Văn học vẫn tiếp tục viết về chiến tranh nhưng người đọc muốn hiểu mọi vấn đề về cuộc chiến kể cả mặt trái của nó, buộc nhà văn không thể viết theo lối cũ nữa - nghĩa là viết thiên về chiến thắng, về cái anh hùng vĩ đại của dân tộc. Những tác phẩm vẫn viết theo lối tư duy cũ không còn sức hấp dẫn đối với độc giả vì hoàn cảnh xã hội đã thay đổi và tâm lí độc giả cũng vậy. Lý luận văn học Macxit đã khẳng định: "Người đọc như một yếu tố bên trong của quá trình sáng tác văn học".
Đối với nhà văn, người đọc bao giờ cũng là hiện thân của nhu cầu xã hội. Trong mọi trường hợp mỗi khi nói đến người đọc nhà văn đều cảm thấy họ: "yêu cầu", "đòi hỏi", "tin cậy", "hứng thú", "hồi hộp", "trông chờ". còn nhà văn thì: "đáp ứng", "lý giải", "tác động", "lôi cuốn", "thuyết phục", "giúp đỡ", "truyền đạt", "phơi bày", "cho thấy". Đó 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính là mối quan hệ giữa người đọc và nhà văn mà nó có ảnh hưởng trực tiếp đến các giai đoạn sáng tác văn học.
Văn học sau 1975 cũng không nằm ngoài ảnh hưởng đó. Nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận xét: "Sau 1975 bỗng dưng xuất hiện một tình trạng rất lạ: sự lạnh nhạt hẳn đi trong công chúng và sáng tác. Người đọc mới hôm qua còn mặn mà là thế, bỗng dưng quay lưng lại với anh, họ không thèm đọc anh nữa. Sách anh viết ra hăm hở dày cộm, nằm mốc meo trên các quầy sách.
Người ta bỏ anh, người ta đi đọc sách Tây và đọc Nguyễn Du" [44, tr. Còn Chế Lan Viên thì cho rằng: “Sách thì nhiều mà không có tác phẩm”. Nguyễn Tuân lại khẳng định: Văn học giai đoạn này hình như có một khoảng “chân không văn học” Tất cả những điều kiện trên buộc nhà văn - người nghệ sĩ cầm bút phải thay đổi cách viết, cách xây dựng hình tượng nhân vật, đặc biệt là quan niệm nghệ thuật về con người. Điều này lí giải tại sao trong văn học dân tộc sau 1975 lại xuất hiện các hiện tượng "lạ" như: Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Bảo Ninh.
Nền văn xuôi sau 1975 vì vậy cần quan tâm đến con người một cách toàn diện hơn, không chỉ đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc, trong lao động và công tác mà cả trong cuộc sống bình thường hàng ngày; không chỉ con người xã hội mà cả con người riêng tư, con người tự nhiên; không chỉ tư tưởng, quan niệm mà cả tình cảm, tâm lí; không chỉ đời sống hữu thức mà cả những cái thoáng qua bất chợt, mơ hồ trong đời sống vô thức. Văn xuôi đang bước vào một chặng đường mới với những thành tựu đáng khích lệ. Nó tập trung giải quyết hàng loạt những vấn đề mới của chủ nghĩa xã hội trong chặng đường đầu tiên của thời kì quá độ, đồng thời trang trải món nợ tinh thần đối với hai cuộc chiến tranh dân tộc. Văn xuôi cũng đang có những tìm tòi, khám phá đáng khích lệ, những đóng góp mới về mặt thể loại và phong cách thể hiện.
Trong bước đường đi lên phía trước không 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khỏi có những hạn chế và thử nghiệm chưa thành công. Năm 1975 trở thành mốc chấm dứt một giai đoạn lịch sử của dân tộc để chuyển sang một vận hội mới. Đối với văn học, bối cảnh mới tạo nên những chấn động sâu xa trong ý thức nghệ thuật. Từ một nền văn học đấu tranh của chiến tranh, của những yêu cầu nghiêm ngặt của chính trị, tư tưởng toàn bộ nền văn học với những kinh nghiệm tích lũy được không phải chỉ là 40 năm cách mạng mà trên cả chặng đường dài lịch sử văn học dân tộc, đang có những nhu cầu mới - nhu cầu trở lại với sự sáng tạo trong dân chủ - nhu cầu sống trong mọi vấn đề của đời sống con người để tìm kiếm và thiết lập những giá trị phong phú của tinh thần con người.
Nhưng những nhu cầu và cả những tiền đề của đổi mới văn học sẽ khó trở thành hiện thực hoặc nếu có trở thành hiện thực thì cũng không có được diện mạo và tư thế như ta đang thấy. Nó cần có một yếu tố thúc đẩy mang tính quyết định. Đó là sự dân chủ hoá về mặt chính trị - xã hội, cho nên không phải ngẫu nhiên mà trên chặng đường nối tiếp của nền văn học 1945 - 1975, cái mốc của đổi mới văn học được tính từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986. Tính từ đó văn học mang một màu sắc khác, một tinh thần khác để có thể nói: "Bắt đầu một giai đoạn khác".
Giai đoạn mới này không cắt lìa mà vẫn tiếp nối nhưng cũng không phải là sự tiếp nối tự nhiên bình thường mà là sự tiếp nối vừa mang tính kế thừa, vừa có sự phủ định biện chứng. Trên tinh thần biện chứng ấy của đổi mới, văn học sẽ được nhìn nhận khách quan hơn, đồng thời tranh cãi về chuyện "phủ định hay không phủ định" cũng có thể có lời giải đáp hợp lí. Chính Ăngghen đã từng nhấn mạnh sự phủ định biện chứng như một chân lí tuyệt đối, khách quan. "Đối với triết học biện chứng thì không có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả.
Nó chỉ ra tính chất quá độ của mọi sự vật và đối với nó không có gì có thể đứng vững được ngoài quá trình không ngừng của sự sinh thành và tiêu vong, của sự tiến triển vô tận từ 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thấp đến cao.Tính chất cách mạng của nó là tuyệt đối - đó là cái tuyệt đối duy nhất được triết học biện chứng thừa nhận". Đổi mới văn học được khởi đầu từ 1986 là sự tự ý thức của văn học trên chặng đường mới của lịch sử và của chính nó. Văn học Việt Nam sau 1975 đã có sự đổi mới rõ rệt, người ta đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn học minh hoạ và yêu cầu văn nghệ phải được cởi trói, đổi mới, đổi khác. Hành trình của đổi mới văn xuôi gắn liền với tiến trình vận động của đổi mới văn học dân tộc.
Theo các nhà nghiên cứu, văn học Việt Nam 30 năm qua đã trải qua 3 chặng đường, có sự nối tiếp không đứt đoạn: từ 1975 - 1985 là giai đoạn chuyển tiếp từ văn học sử thi thời chiến tranh sang nền văn học thời hậu chiến; từ 1986 đến đầu thập kỷ 90 là thời kỳ văn học đổi mới sôi nổi, mạnh mẽ gắn liền với chặng đường đầu của công cuộc đổi mới đất nước; từ 1993 đến nay văn học trở lại với quy luật bình thường và hướng sự quan tâm nhiều hơn đến sự cách tân nghệ thuật. Nếu nhìn vào hành trình đổi mới văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 đến nay qua những chặng đường và thành tựu của nó ta sẽ thấy rõ sự thay đổi về tư duy nghệ thuật (chủ yếu qua truyện ngắn và tiểu thuyết). Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới đã đứng trước nhu cầu "đổi mới tư duy tiểu thuyết". Tiểu thuyết Việt Nam những năm tiền đổi mới (1975 - 1985) vẫn theo đà quay "quán tính" nghiêng về sự kiện, về sự bao quát hiện thực trong một diện rộng, cảm hứng sử thi vẫn chiếm vị trí đáng kể trong tư duy nghệ thuật của nhà văn như: Họ đã sống như thế (Nguyễn Trí Huân), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Trong cơn lốc (Khuất Quang Thụy), Đồng bạc trắng hoa xoè (Ma Văn kháng).
Chỉ khi bước vào thời kỳ đổi mới trong không khí dân chủ của đời sống văn học, văn xuôi Việt Nam mới thực sự đổi mới tư duy nghệ thuật. Từ sau 1986 đó là sự khởi sắc của văn xuôi trong đó tiểu thuyết vẫn là thể loại chủ đạo, bộc lộ ưu thế của mình trong cách "nhìn 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói đúng sự thật"; bao quát được những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội và số phận con người trong vận động và phát triển, đáp ứng những đòi hỏi bức thiết của công chúng đương đại: Thời xa vắng (Lê Lựu); Thiên sứ (Phạm Thị Hoài); Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng ); Thời gian của người, Một cõi nhân gian bé tí (Nguyễn Khải); Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh); Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái); Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh)… Từ sau 1975 - 1980 là chặng đường chuyển tiếp từ nền văn học cách mạng trong chiến tranh sang nền văn học của thời kỳ hậu chiến.