Tổng quan nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa nhanh chóng cùng làn sóng di cư mạnh mẽ đã tạo nên áp lực gay gắt về nhu cầu nhà ở tại các đô thị lớn của Việt Nam. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới năm 2015, số lượng hộ gia đình thành thị tại Thành phố Hồ Chí Minh tăng bình quân 64.000 hộ mỗi năm, tương đương mức tăng trưởng 17%. Trong khi đó, báo cáo của CBRE chỉ ra rằng trong vòng 20 năm, giá bất động sản tại Việt Nam đã tăng 100 lần, gấp 25 lần tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người. Khảo sát thực tế cho thấy hơn 80% dân số đô thị chỉ có khả năng chi trả cho các căn nhà có giá trị từ 128 đến 271 triệu đồng, trong khi giá nhà ở thương mại chính thức dao động từ 600 đến 800 triệu đồng mỗi căn.

Sự chênh lệch cung cầu sâu sắc này đã thúc đẩy sự bùng nổ của thị trường nhà phi chính thức tại các khu vực ven đô. Trong 9 tháng đầu năm 2013, toàn Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận 3.034 trường hợp xây dựng không phép và trái phép, trong đó huyện Bình Chánh chiếm 1.093 vụ, tương đương hơn một phần ba tổng số vi phạm. Đặc biệt, xã Vĩnh Lộc A trở thành tâm điểm nóng khi chiếm 45% số vụ vi phạm của huyện Bình Chánh và 27% tổng số vụ của toàn thành phố.

Luận văn thạc sĩ chính sách công của tác giả Phan Ngọc Yến Xuân tập trung giải quyết 3 mục tiêu cốt lõi: phân tích các tác nhân dẫn đến quyết định lựa chọn nhà phi chính thức của người dân tại xã Vĩnh Lộc A, làm rõ nguyên nhân cấu trúc khiến loại hình nhà ở này tồn tại phổ biến dưới góc độ quản lý công, và đề xuất hệ thống giải pháp chính sách mang tính khả thi nhằm chuyển hóa bài toán nhà ở tự phát thành cơ hội phát triển đô thị bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng kết hợp đa lý thuyết kinh tế học và chính sách công. Trước hết, tác giả vận dụng định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Chương trình Định cư Con người Liên Hợp Quốc (UN-HABITAT) về nhà phi chính thức và khái niệm khu ổ chuột của sự hy vọng. Đây là nơi cư dân luôn chủ động tích lũy và đầu tư nguồn lực cải thiện môi trường sống khi có điều kiện.

Khung phân tích trung tâm tích hợp 4 tiêu chí lựa chọn nhà ở của Ngân hàng Thế giới năm 2015 bao gồm: khả năng chi trả, khả năng tiếp cận, mức độ an ninh, và tính phù hợp để sinh sống. Khung này được bổ sung các đặc trưng lựa chọn nhà ở của người nghèo đô thị theo nghiên cứu của UN-HABITAT năm 2005, nhấn mạnh vào sự linh hoạt của không gian sinh kế tại tầng trệt, mạng lưới hỗ trợ xã hội tương trợ láng giềng, và khả năng xây dựng nâng cấp từng phần theo dòng tiền tiết kiệm.

Bên cạnh đó, lý thuyết trò chơi được ứng dụng để mô hình hóa hành vi chiến lược giữa hai nhóm chủ thể: người dân xây dựng nhà không phép và cán bộ quản lý trật tự đô thị, nhằm xác định điểm cân bằng hành vi trong điều kiện thể chế thực thi có kẽ hở.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích tình huống điển hình và phân tích định lượng mô tả. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi trực tiếp với cỡ mẫu gồm 120 hộ dân đang sinh sống tại các khu nhà phi chính thức thuộc xã Vĩnh Lộc A. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được phân bổ đồng đều tại 6 ấp trọng điểm, mỗi ấp khảo sát 20 hộ gia đình. Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 25 đối tượng liên quan, bao gồm 12 hộ gia đình cư trú, 5 chủ thầu xây dựng tự phát, 6 môi giới đất đai, và 2 cán bộ trực tiếp quản lý trật tự xây dựng tại địa phương.

Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo kinh tế xã hội của Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh năm 2013, các văn bản quy phạm pháp luật như Quyết định 03/2013/QĐ-UBND, cùng nguồn tài liệu quốc tế của Ngân hàng Thế giới và Liên minh Quyền nhà ở Châu Á.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kết hợp phân tích chi phí - lợi ích và mô hình hóa ma trận trò chơi là nhằm bóc tách toàn diện động cơ kinh tế vi mô của người dân, đồng thời chỉ rõ sự thất bại trong cấu trúc khuyến khích của bộ máy thực thi công quyền. Toàn bộ quá trình khảo sát thực địa được triển khai tập trung trong tháng 3 năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa cho thấy 62% số căn nhà phi chính thức có diện tích dưới 50 mét vuông và 31% có diện tích từ 50 đến 100 mét vuông, đáp ứng tối ưu quy mô hộ gia đình từ 3 đến 5 nhân khẩu. Về thời gian cư trú, 68% hộ dân đã sinh sống ổn định từ 1 đến 5 năm, và 69% số căn nhà đã được nâng cấp, kiên cố hóa từ vách tôn, lều bạt ban đầu thành nhà tường gạch có gác lửng khang trang.

Về mặt tài chính, hơn 70% hộ dân thuộc 2 nhóm ngũ phân vị thu nhập thấp nhất trong xã hội với thu nhập dưới 10 triệu đồng mỗi tháng, trong đó 43% có thu nhập dưới 5 triệu đồng mỗi tháng. 100% người dân sử dụng nguồn tiền tích lũy cá nhân và 87% vay mượn thêm từ người thân, trong khi 0% tiếp cận được vốn vay ngân hàng do không có tài sản thế chấp và không chứng minh được bảng lương.

Phân tích chi phí xây dựng cho thấy tổng chi phí để sở hữu một căn nhà phi chính thức hoàn thiện chỉ từ 8,0 đến 8,7 triệu đồng trên một mét vuông đất, tương đương khoảng 6,3 triệu đồng trên một mét vuông sàn. Mức giá này thấp hơn một nửa so với đơn giá nhà ở xã hội trên thị trường từ 12 đến 14 triệu đồng trên một mét vuông sàn.

Mô hình hóa ma trận trò chơi làm sáng tỏ điểm cân bằng chiến lược: người dân nhận được lợi ích ròng ước tính 237,5 triệu đồng cho một căn nhà 50 mét vuông khi xây dựng thành công, trong khi chi phí bôi trơn cho cán bộ quản lý dao động khoảng 70 triệu đồng mỗi căn. Ngược lại, nếu bị cưỡng chế, người dân chỉ tổn thất khoảng 50 triệu đồng tiền vật tư thô ban đầu, tạo ra động cơ kinh tế cực lớn để họ tái vi phạm nhiều lần.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu có thể được hệ thống hóa rõ ràng thông qua bảng phân tích chi phí - lợi ích và biểu đồ phân bổ cấu trúc tài chính hộ gia đình. So sánh dữ liệu cho thấy sự thất bại của các dự án nhà ở xã hội tập trung khi có đến 63% người dân sống trong khu phi chính thức hoàn toàn không quan tâm đến các chương trình nhà ở của nhà nước. Nguyên nhân bắt nguồn từ rào cản tài chính ban đầu quá lớn và thiết kế căn hộ cao tầng triệt tiêu không gian mưu sinh.

Về khả năng tiếp cận, 56% người dân có quãng đường di chuyển đến nơi làm việc dưới 5 km với thời gian đi lại trung bình dưới 20 phút, giúp giảm tối đa chi phí sinh hoạt. Điểm đánh giá mức độ hài lòng chung đạt 3,65 trên thang điểm 5, trong đó mức độ an ninh đạt 3,97 điểm và môi trường trong lành đạt 4,62 điểm. Điều này củng cố luận điểm của các nghiên cứu phát triển đô thị: mức độ thỏa mãn cuộc sống của cư dân tại các khu tự phát sau khi được cải tạo hạ tầng cơ bản đạt 3,34 điểm, hoàn toàn tương đương với mức 3,59 điểm của các khu đô thị mới được quy hoạch bài bản.

Việc điều chỉnh bộ máy quản lý sau tháng 5 năm 2013 làm tinh giảm gần một phần ba lực lượng trật tự đô thị tại cấp xã đã khiến tình trạng vi phạm bùng phát mạnh hơn, số vụ xây dựng không phép tăng vọt lên hơn 1.500 trường hợp chỉ trong vòng 45 ngày. Thực tế này khẳng định các chế tài hành chính đơn thuần không thể triệt tiêu được nhu cầu an cư tự nhiên của nhóm 40% dân cư đáy xã hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên bài học kinh nghiệm quốc tế và kết quả phân tích thực chứng, tác giả kiến nghị chuyển dịch căn bản tư duy quản lý từ cưỡng chế tháo dỡ sang chiến lược đảm bảo an ninh sở hữu và nâng cấp tại chỗ thông qua 4 nhóm giải pháp:

Thứ nhất, hợp thức hóa quyền sử dụng đất và chuyển đổi phí phi chính thức thành nguồn thu ngân sách nhà nước. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và huyện Bình Chánh cần phê duyệt quy hoạch phân khu chi tiết. Đối với các khu đất phù hợp quy hoạch đất ở, chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các căn nhà hiện hữu với mức thu tiền sử dụng đất vừa phải. Đồng thời, áp dụng mức phí xây dựng chính thức công khai từ 70 đến 80 triệu đồng mỗi công trình mới, tương đương khoản chi phí phi chính thức hiện nay để triệt tiêu nạn tham nhũng.

Thứ hai, triển khai chương trình nâng cấp hạ tầng kỹ thuật tại chỗ theo mô hình hợp tác công tư và cộng đồng. Nhà nước giữ vai trò quy hoạch, phân bổ 50% ngân sách đối ứng, và nhân dân đóng góp 50% vốn cùng ngày công lao động để mở rộng đường liên ấp từ 3 lên 6 mét, lắp đặt hệ thống thoát nước ngầm và mạng lưới điện chiếu sáng công cộng, hoàn thành dứt điểm trong khung thời gian từ 3 đến 5 năm.

Thứ three, thiết lập cơ chế cấp quyền sử dụng đất có thời hạn tại các khu vực quy hoạch công trình công cộng. Cơ quan quản lý cấp giấy thuê đất tạm thời có thời hạn từ 10 đến 20 năm, xác định rõ khung giá bồi thường theo giá thị trường hiện tại cộng trượt giá khi thu hồi. Giải pháp này giúp loại bỏ 90% các vụ tranh chấp, khiếu kiện phức tạp khi triển khai dự án công cộng sau này.

Thứ tư, tái cấu trúc hệ thống thanh tra xây dựng và đa dạng hóa chính sách tài chính nhà ở vi mô. Ngân hàng Chính sách Xã hội cần thiết kế các gói vay cải tạo nhà ở tự xây quy mô nhỏ từ 100 đến 200 triệu đồng với lãi suất ưu đãi, không yêu cầu thế chấp bất động sản, hướng trực tiếp đến đối tượng lao động tự do.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung phân tích của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản trị công tại Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, cùng Ủy ban nhân dân các quận huyện vùng ven đang đối mặt với áp lực đô thị hóa. Tài liệu cung cấp góc nhìn đa chiều về cách chuyển hóa nguồn lực ngầm trong dân thành nguồn thu ngân sách và động lực chỉnh trang đô thị.

Nhóm thứ hai là giảng viên, học viên sau đại học và các chuyên gia nghiên cứu trong các lĩnh vực Quản lý công, Kinh tế phát triển, Xã hội học đô thị, và Quy hoạch không gian. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp ứng dụng lý thuyết trò chơi và phân tích chi phí - lợi ích trong giải quyết xung đột chính sách.

Nhóm thứ ba là các tổ chức phi chính phủ, định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, và Liên minh Quyền nhà ở Châu Á. Dữ liệu thực địa hỗ trợ việc thiết kế các dự án viện trợ nâng cấp đô thị nghèo và tài chính vi mô tại Việt Nam.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp phát triển bất động sản phân khúc nhà ở thương mại giá thấp và các quỹ đầu tư tác động xã hội, giúp nhận diện chính xác cấu trúc nhu cầu và khả năng chi trả thực tế của 40% dân số đô thị chưa được phục vụ.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao người thu nhập thấp tại xã Vĩnh Lộc A lại ưu tiên chọn nhà phi chính thức thay vì nhà ở xã hội? Chi phí xây dựng nhà phi chính thức chỉ từ 8,0 đến 8,7 triệu đồng trên một mét vuông, thấp hơn 50% so với đơn giá 12 đến 14 triệu đồng trên một mét vuông của nhà ở xã hội. Hơn nữa, nhà tự xây cho phép thi công từng phần theo khả năng tiết kiệm và kết hợp mặt bằng kinh doanh sinh kế tại gia.

Người dân tiếp cận nguồn vốn nào để mua và xây dựng nhà phi chính thức? Theo số liệu khảo sát thực tế, 100% hộ dân sử dụng tiền tiết kiệm tích lũy của bản thân và 87% vay mượn từ người thân trong gia đình. Tỷ lệ vay vốn ngân hàng chính thức là 0% do người lao động tự do không có tài sản thế chấp và hợp đồng lao động chứng minh thu nhập.

Bản chất của điểm cân bằng ma trận trò chơi giữa người dân và cán bộ quản lý là gì? Điểm cân bằng diễn ra khi người dân chọn xây dựng trái phép và cán bộ quản lý chấp nhận nhận chi phí bôi trơn khoảng 70 triệu đồng mỗi căn. Lựa chọn này mang lại lợi ích ròng 237,5 triệu đồng cho người dân và lợi nhuận cao cho cán bộ với mức rủi ro kỷ luật thấp.

Môi trường sống và an ninh tại các khu nhà phi chính thức có thực sự kém an toàn? Khảo sát thực tế chứng minh điều ngược lại, mức độ hài lòng về an ninh đạt 3,97 trên 5 điểm và môi trường trong lành đạt 4,62 điểm. Cư dân gắn kết chặt chẽ qua mạng lưới tương trợ xóm giềng và 56% người dân chỉ mất dưới 15 phút để di chuyển đến nơi làm việc.

Giải pháp nâng cấp tại chỗ mang lại lợi ích gì so với biện pháp cưỡng chế giải tỏa? Nâng cấp tại chỗ giúp bảo tồn mạng lưới sinh kế xã hội của người nghèo, tiết kiệm hàng trăm tỷ đồng chi phí giải phóng mặt bằng cho ngân sách, đồng thời huy động được 50% nguồn vốn đối ứng từ người dân để hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật đồng bộ.

Kết luận

Luận văn đã làm sáng tỏ bản chất kinh tế xã hội của hiện tượng nhà phi chính thức tại xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh qua 5 kết luận cốt lõi:

Thứ nhất, nhà phi chính thức là giải pháp thích ứng tất yếu của thị trường nhằm cung cấp chỗ ở cho hơn 40% dân cư đô thị có thu nhập dưới 10 triệu đồng mỗi tháng khi khu vực chính thức thất bại.

Thứ hai, việc người dân chấp nhận rủi ro pháp lý xuất phát từ lợi ích kinh tế vượt trội với chi phí xây dựng thấp hơn 50% so với nhà ở xã hội cùng tính linh hoạt cao trong tích lũy tài sản.

Thứ ba, sự tồn tại tràn lan của công trình không phép bắt nguồn từ điểm cân bằng chiến lược trong cấu trúc quản lý khi chi phí bôi trơn tạo ra lợi ích cục bộ lớn hơn rủi ro thực thi công vụ.

Thứ tư, phương án đảm bảo an ninh sở hữu và nâng cấp tại chỗ là giải pháp chính sách tối ưu, giúp giảm thiểu tổn thất phúc lợi xã hội và nâng cao mức thỏa mãn cuộc sống của người dân lên mức 3,65 trên thang điểm 5.

Thứ năm, lộ trình cải cách thể chế cần chuyển đổi các khoản phí phi chính thức thành nguồn thu ngân sách minh bạch, kết hợp cấp quyền thuê đất có thời hạn từ 10 đến 20 năm tại các khu vực quy hoạch công cộng.

Để giải quyết bền vững bài toán nhà ở cho hơn 64.000 hộ gia đình nhập cư mới mỗi năm, các cơ quan quản lý nhà nước cần khẩn trương đổi mới tư duy, chuyển từ biện pháp hành chính cưỡng chế sang kiến tạo khuôn khổ pháp lý tích hợp, hỗ trợ người nghèo đô thị an cư lạc nghiệp và đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của xã hội.