chương 1 giới thiệu về luận văn. Chương 2 tóm lược một số nghiên cứu thực nghiệm, các định nghĩa và trình bày sơ lược về hàm thu nhập của Mincer. Chương 3 trình bày sơ bộ về bộ số liệu VHLSS 2010 và hướng nghiên cứu thực nghiệm dựa trên hàm thu nhập của Mincer. Kết quả nghiên cứu bàn luận sẽ được thể hiện ở chương 4.
Từ đó, một số kết luận và gợi ý chính sách sẽ được đề ra trong chương 5 cũng là chương cuối của luận văn này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chương 2: Tổng quan lý thuyết 2.1 Các khái niệm “Vốn con người” được Ngân hàng thế giới định nghĩa như sau: “Là khả năng, tài năng bẩm sinh của một người cùng với những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của người đó giúp cho họ có thể làm việc hiệu quả về mặt kinh tế. Vốn con người có thể được gia tăng lên thông qua việc đầu tư cho chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo nghề”1. “Suất sinh lợi” được định nghĩa như sau: “Những lợi ích hoặc tổn thất trên khoản đầu tư trong một khoảng thời gian nhất định, được thể hiện bằng tỉ lệ phần trăm tăng lên của lợi ích hoặc giảm xuống do tổn thất so với chi phí đầu tư ban đầu.
Những lợi ích đầu tư này bao gồm các khoản thu nhập nhận được từ cổ phần cộng với các khoản lợi tức thực nhận”2. Suất sinh lợi theo giáo dục được gián tiếp tính theo các cách khác nhau tùy vào mức độ cần xem xét. Nếu ở mức độ toàn xã hội thì suất sinh lợi theo giáo dục chính là tổng gia tăng phúc lợi của toàn xã hội so với tổng đầu tư cho giáo dục. Ở mức độ cá nhân, suất sinh lợi theo giáo dục được tính là tổng thu nhập trong đời của một cá nhân so với số năm đi học của người đó.
Bài nghiên cứu này được thực hiện trên quan điểm của suất sinh lợi theo giáo dục của từng cá nhân.2 Khung lý thuyết Theo Michael P. Todaro và Stephen C. Smith (2009), giáo dục và sức khỏe cho con người là hai mục đích quan trọng của phát triển. Đây cũng chính là hai yếu tố chính cấu thành nên “vốn con người” trong xã hội.
Sức khỏe là cốt lõi của cuộc sống con người và giáo dục là điều cần thiết để có thể giúp con người thỏa mãn và tận hưởng cuộc sống. Hai yếu tố này có tác động tương hỗ với nhau. Giáo dục đóng vai trò quan 1 Dịch theo http://www.org/depweb/beyond/global/glossary.html _truy cập ngày 02/09/2013 2 Lấy từ http://www.com/terms/r/rateofreturn.asp vào ngày 02/09/2013. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 trọng trong việc hấp thụ các công nghệ mới và giúp duy trì khả năng tự tăng trưởng và phát triển ở các nước đang phát triển.
Và sức khỏe tốt chính là tiền đề quan trọng để gia tăng năng suất lao động, đồng thời, một người có sức khỏe tốt thì mới có khả năng hấp thụ giáo dục tốt được. Sức khỏe và giáo dục của người dân thường cao hơn ở những nước phát triển. Có rất nhiều lý do để tin rằng mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và sức khỏe, giáo dục là tương hỗ: Thu nhập cao giúp cho người dân, chính phủ có thể đầu tư nhiều hơn vào giáo dục và sức khỏe, và với sức khỏe và giáo dục tốt hơn sẽ làm tăng năng suất lao động, từ đó làm tăng thu nhập của người dân, quốc gia. Chính mối quan hệ tương hỗ này mà các chính sách phát triển của các quốc gia phải đồng thời tập trung vào việc nâng cao thu nhập, giáo dục và sức khỏe của người dân.
Nghiên cứu này chỉ xét đến khía cạnh giáo dục trong việc nâng cao thu nhập của người dân. Một khoản đầu tư ban đầu cho giáo dục trong một thời điểm sẽ giúp tạo ra một dòng thu nhập tăng lên trong tương lai làm gia tăng. Nếu ta chuyển dòng thu nhập trong tương lai về hiện tại thì ta sẽ tính được suất sinh lợi cho giáo dục, từ đó có thể so sánh với các suất sinh lợi trong các lĩnh vực đầu tư khác. Đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng ở các nước phát triển, suất sinh lợi theo giáo dục ở nữ giới cao hàng đầu so với suất sinh lợi khi đầu tư ở các lĩnh vực khác.
Thu nhập tăng thêm mà một cá nhân có được khi đạt mức giáo dục cao hơn so với trường hợp cá nhân đó vẫn giữ yên ở mức giáo dục cũ được biểu diễn như sau: ∑ Trong đó: Et là thu nhập ở năm thứ t của một cá nhân khi có tham gia mức giáo dục cao hơn. Nt là thu nhập ở năm thứ t của một cá nhân khi không tham gia mức giáo dục cao hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 i là tỷ suất chiết khấu. Hình bên dưới thể hiện chi phí và lợi ích của việc học lên cao hơn.
Dễ thấy, về lâu dài, lợi ích đạt được của cá nhân khi tham gia cấp giáo dục cao hơn là cao hơn đáng kể so với chi phí phải bỏ ra (cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp) Hình 2.1: Chi phí và lợi ích của việc học lên cấp giáo dục cao hơn (Theo Todaro và Smith) Rõ ràng, việc đầu tư cho giáo dục đã giúp người lao động tăng mức giáo dục của mình (tức là gia tăng nguồn vốn con người). Khi vốn con người gia tăng thì năng suất lao động của người đó cũng tăng theo, từ đó giúp gia tăng thu nhập cho người đó. Quá trình tác động có thể được mô hình hóa như hình bên dưới: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2: Mô hình tác động của giáo dục đến thu nhập 2.3 Mô hình thực nghiệm của Mincer Năm 1974, Mincer đã đề xuất hàm thu nhập trong suốt cuộc đời của một cá nhân. Theo đó, logarit thu nhập của cá nhân i ở một thời điểm t trong cuộc đời là một hàm số phụ thuộc tuyến tính theo số năm đi học của cá nhân đó (S) và phụ thuộc theo bậc hai của số năm kinh nghiệm làm việc.
Hàm số được diễn đạt như sau: lnYi(t) = a0 + a1. Si là số năm đi học của cá nhân i. ti là số năm kinh nghiệm làm việc của cá nhân kể từ khi kết thúc việc học tại trường. a0 là biểu trưng cho thu nhập trong trường hợp cá nhân không có đi học và chưa có kinh nghiệm làm việc.
a1 là suất sinh lợi theo giáo dục. a2, a3 là suất sinh lợi cho việc đào tạo trong quá trình làm việc Hàm số này đã được sử dụng rộng rãi trong việc tìm ra suất sinh lợi theo giáo dục ở nhiều nước trên thế giới. Tuy vậy, việc tìm hiểu cơ bản về một số giả định cũng như cách thức của Mincer trong quá trình xây dựng hàm số này sẽ giúp ta nắm rõ hơn về hàm thu nhập này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Mincer cho rằng thu nhập của một cá nhân ở một thời điểm phụ thuộc vào mức đầu tư vào vốn con người của cá nhân ấy ở thời điểm ngay trước đó.
Do vậy, ta đặt E1 là thu nhập tiềm năng của cá nhân đó vào thời điểm 1 thì: E1 = E0 + r.C0 (2) Trong đó, E0 chính là thu nhập mà do chính khả năng bẩm sinh (không qua đầu tư cho vốn con người) của cá nhân đó đem lại, C0 chính là mức đầu tư cho vốn con người vào thời điểm 0, r chính là suất sinh lợi theo đầu tư. Lần lượt, thu nhập của cá nhân ở thời điểm 2 sẽ là: E2 = E1 + r.C1 (3) Tiếp tục như vậy, ta có: ∑ (4) Trong thực tế ta rất khó xác định lượng tiền đầu tư cho vốn con người của cá nhân i. Do vậy, Mincer đề xuất tỉ lệ kt = biểu thị cho tỉ phần thu nhập đầu tư cho vốn con người của một cá nhân trên tổng thu nhập của cá nhân đó tại thời điểm t. Thay thế kt vào biểu thức (4) ta có: ∏ (5) Lấy logarit 2 vế, ta có: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ki rất nhỏ nên ta có gần đúng ln(1+r.
Do vậy, biểu thức (6) được viết lại như sau: ∑ (7) Vì cá nhân đầu tư toàn bộ thời gian, công sức cho việc học trong quá trình đi học tại trường lớp nên ki bằng 1 trong suốt những năm đi học chính thức. Tuy nhiên, khi cá nhân đó đi làm thì ki giảm dần cho đến 0 (khi cá nhân đó về hưu). Nghĩa là, ta có thể chia ki ra làm 2 giai đoạn khác nhau như sau: i. Giai đoạn cá nhân đi học toàn thời gian, ki = 1.
Giai đoạn sau đi học, mức đầu tư cho vốn con người ki giảm dần. Do vậy, phương trình (7) được viết lại như sau: ∑ ∫ (8) Trong đó, rs là suất sinh lợi theo giáo dục toàn thời gian và rp là suất sinh lợi cho việc đầu tư vào vốn con người trong quá trình làm việc sau khi tốt nghiệp. kj giảm dần đến 0 với tốc độ giảm chưa được biết trước. Mincer đã đề ra 4 giả định về tốc độ giảm dần của kj như sau: (1) mức đầu tư giảm dần đều tuyến tính, (2) mức đầu tư giảm dần tuyến tính theo thời gian, (3) mức đầu tư giảm dần phi tuyến, (4) mức đầu tư giảm dần phi tuyến theo thời gian.
Những giả định này đã dẫn đến 4 mô hình hàm thu nhập khác TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 nhau, trong đó giả định (2) được sử dụng nhiều nhất (và là giả định sẽ được ứng dụng trong đề tài nghiên cứu này). Ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về giả định (2) theo bên dưới đây. Mincer cho rằng: (9) Trong đó, k0 là tỉ lệ đầu tư cho vốn con người ban đầu của một cá nhân khi bắt đầu đi làm, T là tổng cộng khoảng thời gian mà trong đó mức đầu tư cho vốn con người của cá nhân là dương. Thay (9) vào (8) ta được: (10) Vì thu nhập thực tế của cá nhân chính là phần thu nhập có khả năng đạt được trừ đi phần đầu tư cho vốn con người của cá nhân đó.
Do vậy, Yt = (1-kt)Et (11) Thay (11) và (9) vào (10): ( ) Áp dụng xấp xỉ Taylor bậc hai cho ( ) ta được: ( ) ( ) ( ) Từ đó: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Nghiên cứu thực nghiệm Các nghiên cứu về mối quan hệ hữu cơ giữa giáo dục và thu nhập đã được thực hiện rất nhiều nơi trên thế giới từ khoảng giữa thế kỷ 20 đến nay. Hầu như các nghiên cứu này đều đã chỉ ra được rằng khi người lao động đạt được một mức giáo dục cao thì sẽ có nhiều khả năng có được mức thu nhập cao hơn.