đặt vấn đề, ở chương này thì trình bày xác định vấn đề nghiên cứu cũng như mục tiêu nghiên cứu Chương 2: tổng quan, giới thiệu tổng quát các định nghĩa Chương 3: phương pháp nghiên cứu, giới thiệu quy trình nghiên cứu, công cụ nghiên cứu Chương 4 phân tích rủi ro ảnh hưởng tài chính dự án bệnh viện bao gồm phân tích rủi ro định tính và thẩm định tài chính đối với dự án bệnh viện Chương 5 các biện pháp ứng phó với rủi ro, ở chương này đề xuất các biện pháp ứng phó rủi ro ảnh hưởng dự án bệnh viện và kiểm chứng các đề xuất đó Chương 6 kết luận và kiến nghị, nghiên cứu được những gì, những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 8 HVTH: Lê Mậu Lộc – MSHV:7140106 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Hà CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN DỰ ÁN 2.Giới thiệu khái quát về bệnh viện 2. Khái niệm Theo tổ chức y tế thế giới, bệnh viện là một bộ phận không thể tách rời của tổ chức xã hội y tế, chức năng của nó là chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh, chữa bệnh và dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vươn tới gia đình và môi trường cư trú. Bệnh viện còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu khoa học. Phân tuyến hệ thống bệnh viện Theo tài liệu đào tạo nâng cao nghiệp vụ trong các cơ sở y tế - Bộ y tế, 2009)[1].
Hệ thống khám chữa bệnh gồm 3 tuyến kỹ thuật từ thấp đến cao, đảm bảo tính liên tục về cấp độ chuyên môn. Tuyến 1 bao gồm các bệnh viện đạt tiêu chuẩn hang III, gồm có các bệnh viện quận huyện thị xã, (gọi chung là bệnh viện huyện), bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện, một số bệnh viện ngànhvà bệnh viện tư nhân, cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cơ bản; tiếp nhận bệnh nhân từ cộng đồng, từ các trạm y tế cơ sở Tuyến 2 bao gồm các bệnh viện đa khoa , chuyên khoa tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, bệnh viện tư nhân, một số bệnh viện ngành tại thành phố trực thuộc trung ương đạt tiêu chuẩn bệnh vện hạng II trở lên; cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh với các vớ các kỹ thuật chuyên khoa, chuyên ngành đáp ứng hầu hết nhu cầu khám chữa bệnh của nhân nhân, ; là cơ sở thực hành cho học sinh trường y- dược trong tỉnh , thành phố. Mỗi tỉnh có ít nhất một bệnh viện đa khoa, quy mô từ 300-800 giường, theo tỷ lệ giường bệnh phục vụ từ 1600-1800 dân Tuyến 3 bao gồm bệnh viện đạt tiêu chuẩn hạng I, hoặc hạng đặc biệt, là tuyến thực hiện các kỹ thuật, chuyên khoa sâu, nghiên cứu khoa học, đồng thời là cơ sở thực hành cho các sinh viên các trường đại học Y-Dược. Duy trì và phát triển các bệnh viện đa khoa trung ương hiện có, với quy mô 500-1500 giường 2.
Phân loại bệnh viện Theo tài liệu đào tạo nâng cao nghiệp vụ trong các cơ sở y tế - Bộ y tế, (2009)[1]. Quy định của bộ y tế, căn cứ vào vị trí chức năng, nhiệm vụ, quy mô và nội 9 HVTH: Lê Mậu Lộc – MSHV:7140106 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Hà dung hoạt động, cơ cấu lao động và trình độ cán bộ, khả năng chuyên môn, cở sở hạ tầng, và trang thiết bị bệnh viện được phân hạng thành 4 hạng Bệnh viện hạng 1: là bệnh viện đa khoa, chuyên khoa trực thuộc bộ y tế, một số bệnh viện tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, có đội ngũ cán bộ y tế có trình độ kỹ thuật cao, được trang bị hiện đại, có chuyên khoa sâu, hạ tầng cơ sở phù hợp Bệnh viện hạng 2 là bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tỉnh thành phố trực thuộc trung ương , một số bệnh viện đa khoa khu vực, bệnh viện ngành, có khả năng chuyên môn, có đội ngũ cán bộ đa khoa, chuyên khoa, có trang thiết bị phù hợp, đủ khả năng hỗ trợ cho bệnh viện hạng 3 Bệnh viện hạng 3 và 4 lả đơn vị độc lập hoặc một bộ phận cấu thành trung tâm y tế huyện , thị, một số bệnh viện ngành làm nhiệm vụ khám chữa bệnh thông thường, chỉ đạo chuyên môn đối với y tế xã phường, trường học để làm nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu 2. Bệnh viện cấp cứu Áp dụng tiêu chuẩn 4470-2012 về tiêu chuẩn thiết kế bệnh viện đa khoa. Bao gồm các khoa: khoa khám bệnh và điều trị ngoại trú, khoa nội, khoa ngoại, khoa phụ sản, khoa nhi, khoa truyền nhiễm, khoa cấp cứu, khoa hồi sức tích cực và chống độc, khoa y học cổ truyền, khoa vật lý trị liệu-phục hồi chức năng, khoa ung bướu, khoa y học hạt nhân, khoa phẫu thuật-gây mê hồi sức, khoa chẩn đoán hình ảnh, khoa xét nghiệm, khoa giải phẫu bệnh, khoa lọc máu, khoa nội soi, khoa dược, khoa dinh dưỡng… Áp dụng quyết định 33 năm 2005 bộ y tế về tiêu chuẩn thiết kế khoa cấp cứu và khoa hồi sức tích cực và chống độc.
*Yêu cầu về khu đất xây dựng và quy hoạch tổng mặt bằng - Yêu cầu về khu đất xây dựng: + Vị trí phải phù hợp với quy hoạch được duyệt, giao thông thuận lợi và có tính đến nhu cầu phát triển trong tương lai. + Vệ sinh thông thoáng, tránh các khu đất có môi trường ô nhiễm. + Phù hợp với phân khu chức năng được xác định trong quy hoạch tổng mặt bằng của đô thị. + Quy mô và diện tích sàn/giường bệnh phải phù hợp.
10 HVTH: Lê Mậu Lộc – MSHV:7140106 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Hà - Yêu cầu về quy hoạch tổng mặt bằng: + Bố cục mặt bằng phải đảm bảo: hợp lý, không chồng chéo giữa các bộ phận, trong từng bộ phận, điều kiện vệ sinh phòng bệnh tốt, đáp ứng nhu cầu phát triển của bệnh viện trong tương lai. + Không gian của tòa nhà, từng bộ phận của các khối đáp ứng các yêu cầu: đáp ứng điều kiện vận chuyển thuốc men dụng cụ y tế, thực phẩm, rác,…có sự cách ly giữa các khoa đặc thù với các khoa khác + Hệ thống giao thông phân luồng, không chồng chéo, lộn xộn, phải có tối thiểu hai cổng ra vào, phải có đường để xe phòng cháy chữa cháy tới được, hệ thống hành lang phải có mái che Bệnh viện cấp cứu Bảo Lộc gồm các khoa chính sau: Khoa cấp cứu tổng hợp, khoa nội tim mạch tổng quát, khoa hồi sức tích cực và chống độc, khoa khám bệnh, khoa bệnh lý mạch máu não, khoa dược, khoa thần kinh, khoa chuẩn đoán hìnhảnh. Khoa cấp cứu tổng hợp là khoa chủ đạo của bệnh viện, tiếp nhận tất cả bệnh nhân 24/24, cấp cứu ngoại viên, sẵn sàng cấp cứu hàng loạt, thực hiện cấp cứu kỹ thuật cao : tiếp nhận, chuẩn bị bệnh nhân, phối hợp cùng chuyên khoa tim mạch can thiệp xử trí nhồi máu cơ tim cấp. Phối hợp cùng chuyên khoa Bệnh lý mạch máu não xử trí các trường hợp đột quỵ cấp: tiêu sợi huyết trong nhồi máu não và can thiệp nội mạch lấy cục máu đông.
Đánh giá hiệu quả tài chính của dự án đầu tư Theo DL Luong (2014) [2] Hiệu quả của dự án đầu tư là đánh giá toàn bộ mục tiêu đề ra của dự án. Hiệu quả dự án được đặc trưng bởi nhóm mục tiêu: + Định tính: thể hiện ở các loại hiệu quả đạt được + Định lượng: thể hiện giữa quan hệ lợi ích và chi phí dự án. Có nhiều phương pháp để đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư, nghiên cứu này chỉ sử dụng hai phương pháp: phương pháp giá trị hiện tại tương đương (Net present value – NPV) và phương pháp suất sinh lợi nội tại (internal rate of return – IRR) 11 HVTH: Lê Mậu Lộc – MSHV:7140106 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Hà 2.Phương pháp giá trị hiện tại tương đương (NPV) Phương pháp giá trị hiện tại tương đương ký hiệu (NPV) là phương pháp quy đổi các giá trị thu chi thực trong quá trình đầu tư về thời điểm ban đầu để so sánh đánh giá. n N t Vt D NPV t t 0 1 r (1 r ) n Nt: Các khoản thu ở năm t.
Vt: Các khoản chi ở năm t. r: Suất chiết khấu(%) t: Thời gian hoạt động của dự án. D: là giá trị thu hồi do thanh lý tài sản khi kết thúc thời gian tính toán của dự án. NPV >0: thì dự án có lời- Dự án đáng giá.
NPV=0: thì dự án hòa vốn NPV <0: thì dự án bị lỗ- Dự án không đáng giá. Ý nghĩa của NPV>0 là sự giàu có hơn lên, tài sản của nhà đầu tư sẽ nở lớn hơn nếu thực hiện dự án.Phương pháp suất thu lợi nội tại (IRR) Suất thu lợi nội tại (Internal Rate of Return, IRR) là suất thu lợi mà bản thân dự án mang lại cho chủ đầu tư. IRR là lãi suất mà ứng với nó thì giá trị hiện tại tương đương của dự án bằng 0. Tức là NPV (ứng r=IRR)=0 + Nếu dự án có IRR>IRRtc (hay MARR) thì dự án đáng giá + Nếu so sánh nhiều dự án (các dự án loại trừ nhau ), A :đầu tư lớn, B:đầu tư nhỏ thì: IRR(A-B)>MARR thì dự án có vốn đầu tư lớn hơn là đáng giá.
IRR là khả năng sinh lời đích thực của bản thân dự án. IRR chỉ thay đổi khi các yếu tố nội tại, tức giá trị các dòng ngân lưu thay đổi Khi thấy NPV=0, thì nghĩ rằng dự án klhông mang lại hiệu quả nào. Nhưng ngay cả khi NPV=0 cũng có nghĩa là dự án đã mang lại cho đồng vốn một suất sinh lời, đó chính là IRR 12 HVTH: Lê Mậu Lộc – MSHV:7140106 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Hà Suất sinh lợi nội tại của một dự án được tính bằng cách giải phương trình sau: n N t Vt D 1 IRR (1 IRR) 0 t 0 t n IRR ≥ r: dự án đáng giá IRR < r: dự án không đáng giá 2.Các quan điểm phân tích tài chính Nếu xét theo nguồn vốn ta có xét dự án theo hai quan điểm: quan điểm tổng đầu tư và quan điểm chủ đầu tư.Quan điểm tổng đầu tư Theo DL Luong (2014) [3], thì nhà cho vay thẩm định dự án dựa trên dòng ngân lưu của tổng vốn đầu tư, tức xem xét tới tổng dòng ngân lưu chi cho dự án (kể cả phần đóng thuế) và tổng dòng ngân lưu thu về (kể cả phần trợ cấp, trợ giá). Quan điểm nhà cho vay còn được gọi là quan điểm tổng đầu tư.