Chương 1: Phần giới thiệu tổng quan: cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu, vấn đề và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan lý luận: trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài, các lý thuyết nền có liên quan, mô hình nghiên cứu. Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu: nguồn thu thập dữ liệu, loại dữ liệu, cách đo các biến, kiểm chứng mô hình. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bình luận: kết quả phát triển, phân tích và kiểm định mô hình, nêu ý nghĩa biến số và kết quả.
Chương 5: Kết luận: đúc kết vấn đề đặt ra và có nhận xét chung về đề tài. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN LÝ LUẬN 2. Kết nối chính trị (Political Connections) Khái niệm kết nối chính trị theo nghiên cứu của Faccio (2006) và Fan và cộng tác giả (2007) là công ty có thành viên HĐQT và CEO đã và đang làm việc trong các cơ quan chính quyền địa phương, trung ương hoặc quân đội. Các proxy đại diện cho kết nối chính trị gồm doanh nghiệp có nguồn vốn nhà nước, tỉ lệ sở hữu của nhà nước trong doanh nghiệp, thành viên HĐQT và CEO có kết nối chính trị.
Theo nghiên cứu của Wang và cộng tác giả (2008) doanh nghiệp có kết nối chính trị gồm những loại sau: • Các DNNN địa phương do chính quyền địa phương sở hữu và quản lý (Ví dụ: các công ty cấp thoát nước, các công ty công trình đô thị cây xanh) • Các DNNN trung ương do chính quyền trung ương quản lý (Ví dụ: Các tổng công ty, tập đoàn nhà nước như tập đoàn dầu khí, bưu chính viễn thông, than và khoáng sản) • Các công ty tư nhân có lãnh đạo (thành viên HĐQT và CEO) đã từng hoặc đang làm trong các cơ quan nhà nước. Theo Li và cộng tác giả (2008) một công ty có kết nối chính trị nếu có các hoạt động chính trị sau: xu hướng đảng phái chính trị (gồm ba loại công ty: các công ty có chủ tịch hoặc CEO là thành viên của ủy ban trung ương thuộc đảng chính trị, các công ty có chủ tịch hoặc CEO có bạn thân là ứng cử viên trong chính trị và các công ty có chủ tịch hoặc CEO hỗ trợ cho một ứng cử viên của đảng ra tranh cử), sự đóng góp cho hoạt động chính trị. Xu hướng đảng phái chính trị và đóng góp chính trị rất quan trọng trong việc thiết lập mối quan hệ với các đảng phái chính trị trong các cuộc bầu cử. Ví dụ, trên truyền thông lãnh đạo công ty hỗ trợ cho một ứng cử viên trong chiến dịch tranh cử sẽ nhận 9 được lòng biết ơn của ứng cử viên và sẽ được coi là đồng minh.
Do đó, khi ứng cử viên thắng cử có xu hướng tạo thuận lợi cho những người ủng hộ này một cách rõ ràng hoặc ngầm Cox và Cubbins (1986). Một doanh nghiệp được xác định là có kết nối chính trị nếu có một thành viên ban lãnh đạo công ty có kết nối chính trị. Do tình hình ban lãnh đạo công ty thay đổi theo thời gian do nhiệm kỳ, bãi nhiệm, miễn nhiệm, bầu mới nên tính chất có hoặc không có kết nối chính trị của doanh nghiệp sẽ thay đổi theo thời gian. Hạn chế tài chính Keynes (1936) cho rằng sự cân bằng thanh khoản cho phép các công ty thực hiện các dự án có giá trị.
Tuy nhiên, tầm quan trọng của sự cân bằng thanh khoản bị ảnh hưởng bởi mức độ mà các công ty tiếp cận với nguồn vốn bên ngoài. Nếu một công ty có thể huy động không hạn chế nguồn vốn bên ngoài nghĩa là công ty không bị hạn chế tài chính thì không có nhu cầu phòng ngừa trước những nhu cầu đầu tư trong tương lai và thanh khoản của công ty cũng không trở thành vấn đề quan trọng. Đây cũng chính là cơ sở định nghĩa mà Almeida và cộng tác giả (2004) sử dụng trong bài nghiên cứu. Nguồn vốn bên ngoài không phải là thay thế hoàn hảo cho nguồn vốn nội bộ nên chi phí tài chính từ nguồn vốn bên ngoài có thể khác nhau đáng kể so với nguồn nội bộ.
“Một công ty bị hạn chế tài chính nếu các chi phí sẵn có của nguồn vốn bên ngoài ngăn cản các công ty thực hiện các quyết định đầu tư và buộc các công ty phải chọn thực hiện bằng nguồn vốn nội bộ sẵn có” (Kaplan và Zingales, 1997). Trong nghiên cứu của Denis và Sibilkov (2010) cũng nhận định về công ty hạn chế tài chính giống như các định nghĩa được nêu ra bên trên. Công ty với chi phí sử dụng nguồn vốn bên ngoài cao tương đương với công ty bị hạn chế tài chính sẽ dựa nhiều hơn và các nguồn lực tài chính nội bộ để hạn chế việc giảm đi đầu tư trong tương lai, giảm hiệu quả hoạt động và sự tăng trưởng của công ty. 10 Doanh nghiệp được xem là có hạn chế tài chính khi doanh nghiệp đó có một khoảng cách giữa chi phí vốn bên trong và chi phí vốn bên ngoài.
Doanh nghiệp nhiều hạn chế tài chính khi khoảng cách giữa chi phí vốn bên trong và chi phí vốn bên ngoài càng lớn. Doanh nghiệp ít hạn chế tài chính hay không có hạn chế tài chính khi nó có nhiều tài sản có tính thanh khoản và giá trị thuần lớn. Một số phương pháp phân loại hạn chế tài chính được sử dụng phổ biến trong các bài nghiên cứu trước như sau: chi trả cổ tức, dòng tiền, quy mô, chi phí tài trợ bên ngoài, khả năng thanh toán lãi vay, chỉ số đo lường rủi ro phá sản Z-score của Altman (1968), chỉ số đo lường hạn chế tài chính KZ của Kaplan and Zingales (1997), chỉ số phân biệt hạn chế tài chính WW của Whited và cộng tác giả (2006). Đầu tư và vốn đầu tư Trong kinh tế học, đầu tư có liên quan đến tiết kiệm và trì hoãn tiêu thụ.
Trong tài chính, đầu tư là đặt tiền vào một tài sản với kỳ vọng của vốn đánh giá cao, thường là dài hạn. Các hình thức đầu tư liên quan đến rủi ro, như đầu tư vào cổ phần, bất động sản và thậm chí các chứng khoán lãi suất cố định mà có thể, rủi ro lạm phát… Đầu tư khi được phân loại theo các căn cứ được chia như sau: ü Căn cứ vào thời gian bỏ vốn đầu tư và thực hiện, có hai loại đầu tư: đầu tư ngắn hạn (dưới một năm), đầu tư dài hạn. ü Căn cứ vào mục tiêu đầu tư có hai loại: đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp (góp vốn liên doanh, mua cổ phiếu, trái phiếu) và đầu tư vào bên trong doanh nghiệp (nghiên cứu và phát triển sản phẩm, tạo điều kiện phát triển lâu dài cho doanh nghiệp), đầu tư mở rộng, đầu tư thay thế hoặc duy trì) ü Căn cứ vào chủ thể đầu tư: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Vốn đầu tư là toàn bộ các chi phí bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư.
Theo quan điểm kinh tế vĩ mô vốn đầu tư trong kinh tế bao gồm ba nội dung chính là: vốn đầu tư làm tăng tài sản cố định; vốn đầu tư tài sản lưu động và vốn đầu tư vào nhà ở. 11 Nhân tố quyết định đầu tư: chính sách kinh tế Nhà nước, thị trường và sự cạnh tranh, chính sách huy động vốn, độ vững chắc tin cậy của sự đầu tư, sự tiến bộ của khoa học công nghệ, khả năng tài chính của doanh nghiệp, tính cách của chủ đầu tư. Hoạt động đầu tư luôn diễn ra hai giai đoạn cơ bản: giai đoạn bỏ vốn ra đầu tư và giai đoạn thu hồi vốn và có lãi. Dòng tiền (CF) CF (Cash Flow) của một công ty trong khoảng thời gian (thường là một quý hoặc một năm) bằng sự thay đổi số dư tiền mặt trong giai đoạn này: tích cực nếu gia tăng số dư tiền mặt (nhiều tiền mặt hơn), tiêu cực nếu số dư tiền mặt giảm đi.
Tổng số dòng tiền ròng được phân loại trong ba lĩnh vực: • Lưu chuyển tiền tệ hoạt động: Tiền thu hoặc chi như là kết quả của hoạt động kinh doanh của công ty, bao gồm các khoản thu nhập tiền mặt cộng với thay đổi vốn lưu động. Về trung hạn dòng tiền này phải dương nếu công ty còn khả năng thanh toán. • Lưu chuyển tiền tệ đầu tư: Tiền mặt nhận được từ việc bán các tài sản thời gian sử dụng dài, hoặc chi tiêu vào vốn chi (đầu tư, mua lại và tài sản thời gian sử dụng dài). • Lưu chuyển tiền tệ tài chính: Tiền mặt nhận được từ phát hành nợ và vốn chủ sở hữu, hoặc chi trả cổ tức, mua lại cổ phần hoặc trả nợ.
• Dòng tiền ròng tăng cho thấy tình trạng và biểu hiện tốt từ các chính sách của cơ quan Nhà Nước, không gây ra tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Dòng tiền ròng có quan hệ cùng chiều với đầu tư của doanh nghiệp, khi dòng tiền ròng thực tế tăng cho thấy doanh nghiệp có thêm vốn đầu tư và có thêm vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Tobin’s Q Hệ số Q của Tobin (Tobin's Q) được James Tobin và William Brainard giới thiệu năm 1968. Ý tưởng của Tobin là nếu thị trường (chứng khoán) đánh giá một công ty cao hơn giá trị vật lý (physical capital) của công ty đó thì đó là tín hiệu thị trường cho rằng công ty này có triển vọng phát triển.
Khi Q lớn hơn 1, công ty sẽ đẩy mạnh đầu tư để tăng trưởng, ngược lại nếu Q nhỏ hơn 1 thì công ty sẽ hạn chế đầu tư, nghĩa là bán bớt tài sản vật chất hoặc giảm đầu tư xuống. Nếu hệ số Q cao, công ty sẽ đầu tư nhiều hơn vì việc huy động thêm vốn sẽ rẻ hơn do thị giá của công ty khá cao so với chi phí huy động thêm vốn. Ngược lại, nếu hệ số Q thấp, công ty sẽ không gia tăng đầu tư. Chỉ số chịu ảnh hưởng từ điều kiện kinh tế vĩ mô của cơ quan Nhà nước và khối đầu tư nước ngoài thông qua chính sách kinh tế vĩ mô và hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế mở.
Bất ổn kinh tế vĩ mô (Macroeconomic Uncertainty) Kinh tế vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế ở góc độ tổng thể thông qua các chỉ tiêu tổng quát như sản lượng quốc gia, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp. Mục tiêu điều tiết vĩ mô là: hiệu quả, công bằng, ổn định và tăng trưởng. Chính phủ điều tiết bằng các chính sách kinh tế: • Chính sách tài khóa: chính sách thuế và chi ngân sách của chính phủ.