Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh kết nối chính trị bất ổn kinh tế vĩ mô và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp một nghiên cứu thực hiện cho các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán hồ chí minh

Nghiên cứu mối liên hệ giữa chính trị, bất ổn kinh tế vĩ mô và hoạt động đầu tư doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

108
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tác động của chính trị đến đầu tư doanh nghiệp

Nghiên cứu chỉ ra rằng kết nối chính trị có thể tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp niêm yết trong việc tiếp cận nguồn vốn và các chính sách ưu đãi từ chính phủ. Các doanh nghiệpkết nối chính trị thường có khả năng giảm thiểu rủi ro và tối ưu hóa cơ hội đầu tư hơn so với các doanh nghiệp không có mối liên hệ chính trị. Theo nghiên cứu của Faccio và cộng sự (2006), các công ty có kết nối chính trị được ưu đãi hơn về tài chính trong những thời điểm khó khăn. Điều này cho thấy rằng chính trị không chỉ ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh mà còn tác động trực tiếp đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Kết quả cho thấy, trong điều kiện bất ổn kinh tế, doanh nghiệpkết nối chính trị có thể gia tăng mức độ đầu tư lên đến 0.016 đơn vị với mức ý nghĩa 1%, cho thấy tầm quan trọng của chính sách kinh tế trong việc định hình hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.

II. Ảnh hưởng của kinh tế vĩ mô đến đầu tư

Bất ổn kinh tế vĩ mô được xem là một yếu tố có tác động tiêu cực đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp niêm yết. Theo Baum và cộng sự (2005), bất ổn kinh tế vĩ mô được đánh giá qua các biến động của GDP, chỉ số sản xuất công nghiệp và chỉ số giá tiêu dùng. Nghiên cứu cho thấy rằng khi bất ổn kinh tế gia tăng, các doanh nghiệp thường có xu hướng giảm đầu tư. Điều này có thể lý giải bởi sự không chắc chắn trong tương lai dẫn đến việc các doanh nghiệp trì hoãn các quyết định đầu tư quan trọng. Các doanh nghiệp có kết nối chính trị có khả năng giảm thiểu tác động tiêu cực này, cho thấy rằng chính trị có thể đóng vai trò như một lá chắn bảo vệ cho hoạt động đầu tư trong bối cảnh bất ổn kinh tế.

III. Chiến lược đầu tư trong bối cảnh bất ổn

Trong bối cảnh bất ổn kinh tế vĩ mô, các doanh nghiệp cần xây dựng các chiến lược đầu tư linh hoạt để ứng phó với những biến động của thị trường. Việc có kết nối chính trị không chỉ giúp doanh nghiệp tiếp cận nhanh chóng với các thông tin thị trường mà còn tạo điều kiện thuận lợi trong việc huy động vốn. Nghiên cứu của Gulen và cộng sự (2015) cho thấy rằng các chính sách bất ổn có thể làm giảm hoạt động đầu tư, đặc biệt đối với các doanh nghiệp phụ thuộc vào chi tiêu của chính phủ. Do đó, các doanh nghiệp niêm yết cần xác định rõ các rủi ro và cơ hội trong môi trường kinh doanh để tối ưu hóa quyết định đầu tư của mình.

IV. Tác động của chính sách kinh tế đến đầu tư

Chính sách kinh tế có vai trò quan trọng trong việc định hình hành vi đầu tư của doanh nghiệp. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các chính sách hỗ trợ từ chính phủ có thể kích thích đầu tư, trong khi các chính sách không ổn định có thể làm giảm động lực đầu tư. Kết nối chính trị giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thông tin và các chính sách ưu đãi, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh. Theo nghiên cứu của Aizenman và Marion (1993), sự bất ổn trong chính sách kinh tế có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua đầu tư. Việc hiểu rõ mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và hoạt động đầu tư sẽ giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định thông minh hơn.

07/01/2025
Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh kết nối chính trị bất ổn kinh tế vĩ mô và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp một nghiên cứu thực hiện cho các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Phần giới thiệu tổng quan: cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu, vấn đề và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan lý luận: trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài, các lý thuyết nền có liên quan, mô hình nghiên cứu. Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu: nguồn thu thập dữ liệu, loại dữ liệu, cách đo các biến, kiểm chứng mô hình. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bình luận: kết quả phát triển, phân tích và kiểm định mô hình, nêu ý nghĩa biến số và kết quả.

Chương 5: Kết luận: đúc kết vấn đề đặt ra và có nhận xét chung về đề tài. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN LÝ LUẬN 2. Kết nối chính trị (Political Connections) Khái niệm kết nối chính trị theo nghiên cứu của Faccio (2006) và Fan và cộng tác giả (2007) là công ty có thành viên HĐQT và CEO đã và đang làm việc trong các cơ quan chính quyền địa phương, trung ương hoặc quân đội. Các proxy đại diện cho kết nối chính trị gồm doanh nghiệp có nguồn vốn nhà nước, tỉ lệ sở hữu của nhà nước trong doanh nghiệp, thành viên HĐQT và CEO có kết nối chính trị.

Theo nghiên cứu của Wang và cộng tác giả (2008) doanh nghiệp có kết nối chính trị gồm những loại sau: • Các DNNN địa phương do chính quyền địa phương sở hữu và quản lý (Ví dụ: các công ty cấp thoát nước, các công ty công trình đô thị cây xanh) • Các DNNN trung ương do chính quyền trung ương quản lý (Ví dụ: Các tổng công ty, tập đoàn nhà nước như tập đoàn dầu khí, bưu chính viễn thông, than và khoáng sản) • Các công ty tư nhân có lãnh đạo (thành viên HĐQT và CEO) đã từng hoặc đang làm trong các cơ quan nhà nước. Theo Li và cộng tác giả (2008) một công ty có kết nối chính trị nếu có các hoạt động chính trị sau: xu hướng đảng phái chính trị (gồm ba loại công ty: các công ty có chủ tịch hoặc CEO là thành viên của ủy ban trung ương thuộc đảng chính trị, các công ty có chủ tịch hoặc CEO có bạn thân là ứng cử viên trong chính trị và các công ty có chủ tịch hoặc CEO hỗ trợ cho một ứng cử viên của đảng ra tranh cử), sự đóng góp cho hoạt động chính trị. Xu hướng đảng phái chính trị và đóng góp chính trị rất quan trọng trong việc thiết lập mối quan hệ với các đảng phái chính trị trong các cuộc bầu cử. Ví dụ, trên truyền thông lãnh đạo công ty hỗ trợ cho một ứng cử viên trong chiến dịch tranh cử sẽ nhận 9 được lòng biết ơn của ứng cử viên và sẽ được coi là đồng minh.

Do đó, khi ứng cử viên thắng cử có xu hướng tạo thuận lợi cho những người ủng hộ này một cách rõ ràng hoặc ngầm Cox và Cubbins (1986). Một doanh nghiệp được xác định là có kết nối chính trị nếu có một thành viên ban lãnh đạo công ty có kết nối chính trị. Do tình hình ban lãnh đạo công ty thay đổi theo thời gian do nhiệm kỳ, bãi nhiệm, miễn nhiệm, bầu mới nên tính chất có hoặc không có kết nối chính trị của doanh nghiệp sẽ thay đổi theo thời gian. Hạn chế tài chính Keynes (1936) cho rằng sự cân bằng thanh khoản cho phép các công ty thực hiện các dự án có giá trị.

Tuy nhiên, tầm quan trọng của sự cân bằng thanh khoản bị ảnh hưởng bởi mức độ mà các công ty tiếp cận với nguồn vốn bên ngoài. Nếu một công ty có thể huy động không hạn chế nguồn vốn bên ngoài nghĩa là công ty không bị hạn chế tài chính thì không có nhu cầu phòng ngừa trước những nhu cầu đầu tư trong tương lai và thanh khoản của công ty cũng không trở thành vấn đề quan trọng. Đây cũng chính là cơ sở định nghĩa mà Almeida và cộng tác giả (2004) sử dụng trong bài nghiên cứu. Nguồn vốn bên ngoài không phải là thay thế hoàn hảo cho nguồn vốn nội bộ nên chi phí tài chính từ nguồn vốn bên ngoài có thể khác nhau đáng kể so với nguồn nội bộ.

“Một công ty bị hạn chế tài chính nếu các chi phí sẵn có của nguồn vốn bên ngoài ngăn cản các công ty thực hiện các quyết định đầu tư và buộc các công ty phải chọn thực hiện bằng nguồn vốn nội bộ sẵn có” (Kaplan và Zingales, 1997). Trong nghiên cứu của Denis và Sibilkov (2010) cũng nhận định về công ty hạn chế tài chính giống như các định nghĩa được nêu ra bên trên. Công ty với chi phí sử dụng nguồn vốn bên ngoài cao tương đương với công ty bị hạn chế tài chính sẽ dựa nhiều hơn và các nguồn lực tài chính nội bộ để hạn chế việc giảm đi đầu tư trong tương lai, giảm hiệu quả hoạt động và sự tăng trưởng của công ty. 10 Doanh nghiệp được xem là có hạn chế tài chính khi doanh nghiệp đó có một khoảng cách giữa chi phí vốn bên trong và chi phí vốn bên ngoài.

Doanh nghiệp nhiều hạn chế tài chính khi khoảng cách giữa chi phí vốn bên trong và chi phí vốn bên ngoài càng lớn. Doanh nghiệp ít hạn chế tài chính hay không có hạn chế tài chính khi nó có nhiều tài sản có tính thanh khoản và giá trị thuần lớn. Một số phương pháp phân loại hạn chế tài chính được sử dụng phổ biến trong các bài nghiên cứu trước như sau: chi trả cổ tức, dòng tiền, quy mô, chi phí tài trợ bên ngoài, khả năng thanh toán lãi vay, chỉ số đo lường rủi ro phá sản Z-score của Altman (1968), chỉ số đo lường hạn chế tài chính KZ của Kaplan and Zingales (1997), chỉ số phân biệt hạn chế tài chính WW của Whited và cộng tác giả (2006). Đầu tư và vốn đầu tư Trong kinh tế học, đầu tư có liên quan đến tiết kiệm và trì hoãn tiêu thụ.

Trong tài chính, đầu tư là đặt tiền vào một tài sản với kỳ vọng của vốn đánh giá cao, thường là dài hạn. Các hình thức đầu tư liên quan đến rủi ro, như đầu tư vào cổ phần, bất động sản và thậm chí các chứng khoán lãi suất cố định mà có thể, rủi ro lạm phát… Đầu tư khi được phân loại theo các căn cứ được chia như sau: ü Căn cứ vào thời gian bỏ vốn đầu tư và thực hiện, có hai loại đầu tư: đầu tư ngắn hạn (dưới một năm), đầu tư dài hạn. ü Căn cứ vào mục tiêu đầu tư có hai loại: đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp (góp vốn liên doanh, mua cổ phiếu, trái phiếu) và đầu tư vào bên trong doanh nghiệp (nghiên cứu và phát triển sản phẩm, tạo điều kiện phát triển lâu dài cho doanh nghiệp), đầu tư mở rộng, đầu tư thay thế hoặc duy trì) ü Căn cứ vào chủ thể đầu tư: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Vốn đầu tư là toàn bộ các chi phí bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư.

Theo quan điểm kinh tế vĩ mô vốn đầu tư trong kinh tế bao gồm ba nội dung chính là: vốn đầu tư làm tăng tài sản cố định; vốn đầu tư tài sản lưu động và vốn đầu tư vào nhà ở. 11 Nhân tố quyết định đầu tư: chính sách kinh tế Nhà nước, thị trường và sự cạnh tranh, chính sách huy động vốn, độ vững chắc tin cậy của sự đầu tư, sự tiến bộ của khoa học công nghệ, khả năng tài chính của doanh nghiệp, tính cách của chủ đầu tư. Hoạt động đầu tư luôn diễn ra hai giai đoạn cơ bản: giai đoạn bỏ vốn ra đầu tư và giai đoạn thu hồi vốn và có lãi. Dòng tiền (CF) CF (Cash Flow) của một công ty trong khoảng thời gian (thường là một quý hoặc một năm) bằng sự thay đổi số dư tiền mặt trong giai đoạn này: tích cực nếu gia tăng số dư tiền mặt (nhiều tiền mặt hơn), tiêu cực nếu số dư tiền mặt giảm đi.

Tổng số dòng tiền ròng được phân loại trong ba lĩnh vực: • Lưu chuyển tiền tệ hoạt động: Tiền thu hoặc chi như là kết quả của hoạt động kinh doanh của công ty, bao gồm các khoản thu nhập tiền mặt cộng với thay đổi vốn lưu động. Về trung hạn dòng tiền này phải dương nếu công ty còn khả năng thanh toán. • Lưu chuyển tiền tệ đầu tư: Tiền mặt nhận được từ việc bán các tài sản thời gian sử dụng dài, hoặc chi tiêu vào vốn chi (đầu tư, mua lại và tài sản thời gian sử dụng dài). • Lưu chuyển tiền tệ tài chính: Tiền mặt nhận được từ phát hành nợ và vốn chủ sở hữu, hoặc chi trả cổ tức, mua lại cổ phần hoặc trả nợ.

• Dòng tiền ròng tăng cho thấy tình trạng và biểu hiện tốt từ các chính sách của cơ quan Nhà Nước, không gây ra tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Dòng tiền ròng có quan hệ cùng chiều với đầu tư của doanh nghiệp, khi dòng tiền ròng thực tế tăng cho thấy doanh nghiệp có thêm vốn đầu tư và có thêm vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Tobin’s Q Hệ số Q của Tobin (Tobin's Q) được James Tobin và William Brainard giới thiệu năm 1968. Ý tưởng của Tobin là nếu thị trường (chứng khoán) đánh giá một công ty cao hơn giá trị vật lý (physical capital) của công ty đó thì đó là tín hiệu thị trường cho rằng công ty này có triển vọng phát triển.

Khi Q lớn hơn 1, công ty sẽ đẩy mạnh đầu tư để tăng trưởng, ngược lại nếu Q nhỏ hơn 1 thì công ty sẽ hạn chế đầu tư, nghĩa là bán bớt tài sản vật chất hoặc giảm đầu tư xuống. Nếu hệ số Q cao, công ty sẽ đầu tư nhiều hơn vì việc huy động thêm vốn sẽ rẻ hơn do thị giá của công ty khá cao so với chi phí huy động thêm vốn. Ngược lại, nếu hệ số Q thấp, công ty sẽ không gia tăng đầu tư. Chỉ số chịu ảnh hưởng từ điều kiện kinh tế vĩ mô của cơ quan Nhà nước và khối đầu tư nước ngoài thông qua chính sách kinh tế vĩ mô và hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế mở.

Bất ổn kinh tế vĩ mô (Macroeconomic Uncertainty) Kinh tế vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế ở góc độ tổng thể thông qua các chỉ tiêu tổng quát như sản lượng quốc gia, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp. Mục tiêu điều tiết vĩ mô là: hiệu quả, công bằng, ổn định và tăng trưởng. Chính phủ điều tiết bằng các chính sách kinh tế: • Chính sách tài khóa: chính sách thuế và chi ngân sách của chính phủ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tiêu đề "Tác động của chính trị và kinh tế vĩ mô đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp niêm yết" của tác giả Trần Văn Dương, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thu Hiền, nghiên cứu sự kết nối giữa các yếu tố chính trị, bất ổn kinh tế vĩ mô và ảnh hưởng của chúng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về môi trường đầu tư mà còn giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về cách thức mà các yếu tố chính trị và kinh tế có thể tác động đến hoạt động kinh doanh của họ.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản trị kinh doanh trong bối cảnh tương tự, bạn có thể tham khảo bài viết Nghiên Cứu Mô Hình Tồn Kho Tối Ưu Tại Công Ty Cổ Phần Đại Tân Việt, nơi phân tích các mô hình quản trị kho hàng trong doanh nghiệp. Một tài liệu khác có liên quan là Luận văn thạc sĩ về tạo động lực cho người lao động tại VNPT Thanh Hóa, cung cấp cái nhìn về cách thức tạo động lực cho nhân viên trong bối cảnh kinh doanh. Cuối cùng, bài viết Năng suất lao động của giao dịch viên tại quầy giao dịch ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam cũng sẽ bổ sung thêm thông tin về hiệu quả lao động trong ngành tài chính. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư và quản trị doanh nghiệp.