Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 7 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz (1952) ra đời là nền tảng cho các nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận. Sau Makowitz đã có nhiều nhà kinh tế phát triển lý thuyết này như: mô hình định giá tài sản vốn (Capital asset pricing model – CAPM) của Sharpe (1964), mô hình 3 nhân tố của Fama French (1993), mô hình 4 nhân tố của Carhart (1997), mô hình Q 4 nhân tố của Hou, Xue và Zhang (2015), mô hình 5 nhân tố của Fama French (2015). Mô hình ra đời sau khắc phục được hạn chế của các mô hình trước đó và có mức độ giải thích mô hình tốt hơn. Nghiên cứu sẽ trình bày lần lượt các lý thuyết và mô hình, sau đó sẽ tóm tắt kết quả của một số các nghiên cứu trước trong việc ứng dụng các mô hình này tại nước ngoài và Việt Nam 2.
Các khái niệm Thông thường, khi nhà đầu tư tham gia vào thị trường thì một trong những điều đầu tiên mà họ quan tâm phải là lợi nhuận, yếu tố góp phần duy trì một hoạt động kinh tế. Mặc dù mục tiêu của hoạt động đầu tư là lợi nhuận kiếm được, nhưng muốn biết một hoạt động đầu tư có hiệu quả hay không người ta phải sử dụng khái niệm tỷ suất sinh lợi (TSSL) chứ không phải lợi nhuận. Theo Nguyễn Minh Kiều (2009) “Tỷ suất sinh lợi (rate of return) là tỷ lệ phần trăm giữa thu nhập và giá trị khoản đầu tư bỏ ra”. Khi nói đến lợi nhuận tức là nói đến một số tiền kiếm được, còn nói đến tỷ suất sinh lợi là nói đến con số tỷ lệ phần trăm giữa số tiền kiếm được so với số tiền bỏ ra.
Nhà đầu tư luôn tìm cách tối đa hóa tỷ suất sinh lợi và khi đó họ sẽ phải đối mặt với rủi ro. Rủi ro có từ rất nhiều hình thức, có rủi ro do tài sản mất giá, có rủi ro lạm phát làm giảm sức mua từ tài sản, có rủi ro bất ổn chính trị ảnh hưởng đến thị trường 8 thế giới. Cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro. Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau.
Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng. Theo trường phái hiện đại, rủi ro (risk) là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp.
Rủi ro trong đầu tư là không thể tránh khỏi, nhưng vẫn có thể kiểm soát rủi ro, có thể tăng lợi nhuận tối đa với một mức rủi ro chấp nhận được. Một cách để làm giảm rủi ro là đa dạng hóa đầu tư. Tức là việc đầu tư vào nhiều loại tài sản khác nhau gọi là danh mục đầu tư. Danh mục đầu tư là sự kết hợp của hai hay nhiều chứng khoán hoặc tài sản khác nhau trong đầu tư.
Người ta phân rủi ro tổng thể của một danh mục đầu tư ra làm hai loại bao gồm rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống. Rủi ro hệ thống (systematic risk) là rủi ro gắn liền với các biến động của thị trường, xuất phát từ các nguyên nhân bên ngoài doanh nghiệp hay ngành như: thiên tai, chiến tranh, thay đổi trong lãi suất, thay đổi trong sức mua, thay đổi trong kỳ vọng của nhà đầu tư về nền kinh tế… Những biến động này tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết các cổ phiếu trên thị trường. Rủi ro không hệ thống (non-systematic risk) là những rủi ro đặc thù chỉ tác động đến một loại tài sản hoặc một nhóm tài sản, nảy sinh từ những nguyên nhân nội tại của doanh nghiệp hay của ngành, ví dụ như: năng lực quản trị yếu kém, nguồn cung nguyên vật liệu gặp khó khăn, quy định của chính phủ về kiểm soát môi trường chặt chẽ hơn, tác động của cạnh tranh nước ngoài (mức độ cạnh tranh nước ngoài càng cao thì rủi ro càng cao), mức độ sử dụng đòn bẩy (sử dụng nợ càng nhiều thì mức độ rủi ro tài chính càng cao)… 9 Sự kết hợp các chứng khoán không có quan hệ tương quan cùng chiều hoàn hảo sẽ làm giảm được rủi ro do biến động của lợi nhuận đầu tư, biến động giảm lợi nhuận của chứng khoán này có thể được bù đắp bằng biến động tăng lợi nhuận của chứng khoán kia. Danh mục đầu tư khi được đa dạng hóa tốt thì có thể loại trừ gần như hoàn toàn rủi ro không hệ thống, tuy nhiên rủi ro hệ thống thì không thể loại trừ được theo cách này.
Hình vẽ dưới đây biểu diễn mối quan hệ giữa rủi ro và số lượng chứng khoán trong danh mục đầu tư, theo đó khi số lượng chứng khoán trong danh mục đầu tư tăng lên thì rủi ro nói chung giảm xuống chỉ còn rủi ro hệ thống.1: Mối quan hệ giữa rủi ro và số lượng chứng khoán. Lợi nhuận và rủi ro của danh mục đầu tư Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư là trung bình có trọng số của các lợi nhuận kỳ vọng của từng tài sản hay chứng khoán cá biệt trong danh mục đầu tư. Trọng số ở đây chính là tỷ trọng của từng loại chứng khoán cá biệt trong danh mục đầu tư. 10 Gọi E(rp) là lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư, công thức tính lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư như sau: n E (rp ) xi E (ri ) i 1 trong đó xi là tỷ trọng của chứng khoán i, E(ri) là lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán i, và n là tổng số chứng khoán có trong danh mục đầu tư.
Rủi ro của danh mục đầu tư được đo lường bởi độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư. Khi kết hợp nhiều tài sản trong một danh mục đầu tư, lợi nhuận của các chứng khoán cá biệt có quan hệ với nhau. Đồng phương sai (covariance) là đại lượng thống kế dùng để đo lường mức độ tác động qua lại lẫn nhau giữa tỷ suất lợi nhuận của hai tài sản cá biệt. Nói cách khác, độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư phụ thuộc vào mức độ quan hệ hay mức độ tương quan giữa các chứng khoán trong danh mục đầu tư.
Độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư được xác định bởi công thức: n n p xi x j i j i, j i 1 j 1 trong đó n là tổng số chứng khoán có trong danh mục đầu tư, xi là tỷ trọng của chứng khoán i trong danh mục, xj là tỷ trọng của chứng khoán j trong danh mục, σi là độ lệch chuẩn lợi nhuận của chứng khoán i, và σj là độ lệch chuẩn lợi nhuận của chứng khoán j, và ρi,j là hệ số tương quan kỳ vọng giữa lợi nhuận của chứng khoán i và chứng khoán j. Khi j = k thì hệ số tương quan ρi,j = 1 và σiσjρi,j = σj2. Lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz Harry Makowitz (1952) giới thiệu lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (Modern portfolio theory). Lý thuyết đưa ra phương pháp chọn lựa danh mục đầu tư dựa trên những giả định như sau: 11.
Rủi ro là mức bất ổn của tỷ suất sinh lợi, do đó thước đo của rủi ro là phương sai và độ lệch chuẩn của TSSL. Tỷ suất sinh lợi tuân theo phân phối chuẩn. Các nhà đầu tư không thích rủi ro nhưng sẽ chấp nhận rủi ro ở những mức độ khác nhau. Thái độ của các nhà đầu tư đối với rủi ro là sự khác biệt trong TSSL mong đợi của nhà đầu tư trong tương quan đánh đổi rủi ro.
Các nhà đầu tư luôn tối đa hóa lợi ích mong đợi trong một thời kỳ nhất định. Đường cong hữu dụng của nhà đầu tư là một hàm số của TSSL mong đợi và 2 phương sai của TSSL U = E(r) -. Markowitz đã chứng minh được rằng đa dạng hoá có thể làm giảm rủi ro danh mục. Với danh mục gồm nhiều tài sản, các tỷ trọng kết hợp khác nhau cho ra những kết hợp của TSSL và độ lệch chuẩn mà Markowitz gọi là vùng quả trứng vỡ.
Bất kỳ kết hợp nào cũng cho ra kết quả nằm trong vùng này. Đường biên trên của vùng quả trứng vỡ chính là đường biên hiệu quả, bao gồm các kết hợp tạo thành những danh mục đầu tư hiệu quả, tức là những danh mục có TSSL cao nhất ứng với một độ lệch chuẩn cho trước, hoặc danh mục có độ lệch chuẩn thấp nhất ứng với một TSSL cho trước (với giả định các nhà đầu tư đều muốn tăng TSSL và giảm độ lệch chuẩn). 12 Tỷ suất sinh lợi mong đợi Hiệu quả biên Độ lệch chuẩn Hình 2.2: Đường biên hiệu quả Markowitz. Việc lựa chọn danh mục đầu tư sẽ tuỳ thuộc vào đường biên hiệu quả và mức độ ưa thích rủi ro của nhà đầu tư, tức đường hữu dụng.
Đường hữu dụng cho thấy thái độ của nhà đầu tư đối với rủi ro. Ứng với mỗi nhà đầu tư (một giá trị hệ số ngại rủi ro) ta có một tập hợp các đường hữu dụng song song với nhau. Đường hữu dụng càng cao cho thấy mức hữu dụng càng lớn. Với trục tung là tỷ suất sinh lợi và trục hoành là độ lệch chuẩn thì, nếu nhà đầu tư là NĐT ghét rủi ro thì đường hữu dụng sẽ dốc đứng (muốn TSSL nhiều hơn nhưng độ lệch chuẩn ít hơn).
Đó là trường hợp NĐT với tập hợp đường hữu dụng U1, U2, U3 như hình vẽ. Còn nếu nhà đầu tư là ưa thích rủi ro thì đường hữu dụng sẽ có dạng xuôi hơn, ít dốc hơn (nhà đầu tư chấp nhận hy sinh độ lệch chuẩn lớn hơn để nhận được TSSL tương ứng ít hơn - tập hợp U’1, U’2, U’3). Danh mục đầu tư tối ưu sẽ là danh mục nằm trên đường biên hiệu quả và tiếp xúc với đường hữu dụng cao nhất có thể.3: Kết hợp đường biên hiệu quả và đường hữu dụng.