Chương 1: Mô hình CAPM betazero và rủi ro hệ thống của cô phiếu ngành thép Trong chương này, đ tông hợp các kiến thức lý luậ liên quan đến mô hình CAPM Betazero, các đặc điểm của ngành thép và các nhân tố của rủi ro hệ thống Chương 2: Phương pháp ước lượng và kiểm định mô hình CAPM betazero Chương này trình bày hai phương pháp ước lượng và kiểm định mô hình CAPM betazero: phương pháp FIML và phương pháp GMM. Chương 3: Tình hình rủi ro của cỗ phiếu ngành thép tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phó Hồ Chí Minh Chương này giới thiệu về ngành thép và các loại rủi ro hệ thống ảnh hưởng đến ngành thép. Chương 4: Kết quả ước lượng và kiểm định mô hinh Capm betazero. Chương này trình bày kết quả ước lượng và kiểm định tính hiệu lực của mô hình Capm beta-zero thông qua đó ước lượng hệ số beta đề đo lượng rủi ro hệ thống của từng loại cổ phiếu ngành thép so với rủi ro của thị trường để từ đó đưa ra các khuyến nghị đối với nhà đầu tư.
MO HINH CAPM BETAZERO VA 1 RO HE THONG CUA CO PHIEU NGANH THEP 1.1 Đo lường tỷ suất lợi tức và rủi ro của một tài sản và của danh mục các nm 1.1 Đo lường tỷ suất lợi tức của tai sin 1.1 Tỷ suất lợi tức của một tài sản Lợi tức tổng công thu được từ việc đầu tư vào một chứng khoán bao gồm hai phần: Các dòng thu nhập từ các chứng khoán đó và lợi tức do sự thay đổi trong giá cả của bản thân chứng khoán. Tỷ suất lợi tức được xác định bằng với lợi tức tổng cộng nhận được chia cho giá mua chứng khoán ban đầu (tỷ suất này còn được gọi là tỷ suất lợi tức trong khoản thời gian nắm giữ chứng khoán ~ HPY (Holding Period Yield). J- (11) h Trong đó: ~ D: Dòng thu nhập từ chứng khoán, ~ P): Giá bán chứng khoán vào cuối thời gian nắm giữ, - Pu: Giá mua chứng khoán ban đầu.2 Tỷ suất lợi tức trung bình của một tai san Khi nhà đầu tư nắm giữ một chứng khoán qua nhiều năm, lợi tức mà chứng khoán đó có thể mang lại thường là khác nhau. Bên cạnh việc xem xét lợi tức mỗi năm cụ thể, nhà đầu tư còn quan tâm đến lợi tức trung bình năm.
của chứng khoán đó trong toàn bộ thời gian đầu tư. Có hai cách tính tỷ suất lợi tức trung bình hàng năm của một chứng khoán: trung bình cộng (Arithmetic Mean - AM) và trung bình nhân (Geometric Mean - GM). + Trung bình cộng: + Trung bình nhân ~ _ n: số năm nắm giữ chứng khoán. Tỷ suất lợi tức trung bình cng > Ty suất lợi tức trung bình nhân 1.3 Tỷ suất lợi tức kỳ vọng của một tài sản Các nhà đầu tư xác định tỷ suất lợi tức kỳ vọng dựa vào những giá trị lợi tức ước tính có thể và xác suất của mỗi lợi tức đó.
Tỷ suất lợi tức kỳ vọng của một chứng khoán được xác định như sau: ER) PR, (4) Trong đó: ~_ E(R,): Tỷ suất lợi tức kỳ vọng, - Rj: Ty suat lợi tức có thê nhận được trong tình huồng i, ~ Pi: Xác suất nhận được R. Trường hợp sử dụng dữ liệu quá khứ tỷ suất lợi tức kỳ vọng là:. (5) > Trong đó: ~_ E(Rị): Tỷ suất lợi tức kỳ vọng, ~_ R¿ Tỷ suất lợi tức có thê nhận được năm ¡, ~_ n: Số lượng tỷ suất lợi tức từ mẫu được quan sát trong quá khứ.4 Đo lường tỷ suất lợi tức của danh mục đầu tư Lợi tức kỳ vọng của danh mục đầu tư được xác định như sau: ER, Sw, £(R) (16) Voi Sw, Trong đó: ~ E(R›) : Tỷ suất lợi tức kỳ vọng của danh mục đầu tư, ~ wị : Tỷ trọng của chứng khoán ¡ trong danh mục đầu tư, ~ E(R): Tỷ suất lợi tức kỳ vọng của chứng khoán ¡, ~ n: số loại chứng khoán trong danh mục đầu tư.2 Đo lường rải ro của một tài sản và của danh mục các tài sin 1.1 Đo lường rủi ro của một tài sản Rủi ro đề cập đến sự không chắc chắn vẻ lợi tức mà nhà đầu tư kỳ vọng nhận được từ việc đầu tư. Sự không chắc chắn này được thể hiện bởi nhiều lợi tức có thể được với nhiều xác suất khác nhau.
ộ phân tán của những. giá trị lợi tức có thể so với lợi tức kỳ vọng cảng lớn, thì sự không chắc chắn (rủi ro) của lợi tức kỳ vọng nhận được cảng lớn. Trong đầu tư tài chính, rủi ro phương sai (variance) hoặc chỉ tiêu độ lệch chuẩn (standard deviadon) của phân phối tỷ suất lợi tức được sử dụng để đo lường rủi ro. Các chỉ tiêu này thường được tính như sau: + Phương sai của tỷ suất lợi tức(z") -7- => PIR FRE ye a + Độ lệch chuẩn cia ty suit loi tire(o ) o š [R,- E(R)P (18) “Trong các phần trên, tỷ suất lợi tức kỳ vọng và rủi ro của chứng khoán.
được xác định trên cơ sở phân tích những tình huống nhất định trong tương. Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng có thê dựa vào những dữ liệu quá khứ để ước lượng tỷ suất lợi tức kỳ vọng và phương sai (hoặc độ lệch chuẩn) để sử. dụng cho việc đầu tư trong tương lai. Phương sai được ước lượng từ những dữ liệu quá khứ được xác định như sau: Šœ- rt (1.9) Trong đó: ~: Tỷ suất lợi tức trung bình cộng, ~n : Số lượng tỷ suất lợi tức từ mẫu được quan sát trong quá khứ.2 Đo lường rủi ro của danh mục tài sản Để thiết lập được công thức phương sai của TSSL đối với DMĐT- ø, ,chúng ta cần tìm hiểu qua hai khái niệm cơ bản trong thống kê học là hiệp phương sai (Cov) và hệ số tương quan (ø ).
* Higp phuong sai (Covariance) Hiệp phương sai là một hệ số do lường mức độ theo đó lợi tức trên hai tài sản (tải sản A và tài sản B) biến động so với nhau. Hiệp phương sai của tỷ dit lợi tức trên hai tài sản bắt kỳ A và B được tính toán như sau: ~ Đối với trường hợp phân phối xác suất TSLT của hai tài sản A và B thì hiệp phương sai được xác định như sau: Cov, š=Š pIR,, =Ed,)|IR,, = E(R,)| (1.10) Trong đó: ~ø„: Hiệp phương sai giữa hai tài sản A và B, ~ Rạ¿„ Rạ,: Lần lượt là tỷ suất loại tức có thể nhận được trên tài sản ABB trong tinh huồng i, ~ E(Rụ), E(Rụ) : Lần lượt là tỷ suất lợi tức kỳ vọng trén tai sin A,B. ~ Đối với trường hợp TSLT của hai tài sin A va B được tính toán dựa vào dữ liệu quá khứ thì hiệp phương sai của chúng được xác định như sau: [(R,,~E(R,)(,,~E(,)] 4.1) Hiệp phương sai giữa hai tài sản có thê dương (+), âm(-), hoặc bằng. không (0) «_ Hiệp phương sai dương: lợi tức trên hai tài sản có mỗi quan hệ cùng chiều với nhau.
Khi lợi tức trên tai sản này tăng thì lợi tức trên tai san kia cũng tăng và ngược lại © Hiệp phương sai âm: Lợi tức trên hai tải sản có mối quan hệ ngược chiều với nhau. Khi lợi tức trên tải sản này tăng thì lợi tức trên tải sản kia giảm và ngược lại. * Hệ số tương quan (Correlation) Hệ số tương quan giữa hai tài san A và B được xác định bằng cách cha hiệp phương sai giữa hai tài sản đó ( 2„„ ) cho tích số độ lệch chuẩn của hai tài sản A và B (,xø,) (1.12) Hệ số tương quan có giá trị thay déi tir -1 va +1 (-1<p,, < +1). Gid tri -9- +1 thể lên một quan hệ tuyến tính thuận hoàn hảo giữa hai tải sản.
Giá trị -1 thể hiện quan hệ tuyến tính nghịch hoàn hảo. Rủi ro của danh mục đầu tư được đo lường bằng chỉ tiêu phương sai (hoặc độ lệch chuẩn) của tỷ suất lợi tức trên danh mục đầu tư. + Phương sai: (1.13) +Độ lệch chuẩn: (1:14) trong đó: ~ø,: Độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức trên danh mục đầu tư, -w¿j :tÿ trọng của tài sản thứ¡ (hoặc j) trong danh mục đầu tư, ~ ø,: Độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức trên tài san thir i, ~ø, : Hiệp phương sai giữa tỷ suất lợi tức trên tài sản thứ ¡ và tỷ suất lợi tức trên tài sản thứ j trong danh mục đầu tư. Công thức tính toán độ lệch chuẩn ở trên cho thấy rằng: độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức trên danh mục đầu tư không chỉ là trung bình theo trọng số của độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức trên các tài sản riêng lẻ (không như độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức kỳ vọng của danh mục đầu tư).
Trái lại, độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức trên danh mục đầu tư phụ thuộc vào cả độ lệch chuẩn của mỗi tài sản riêng lẻ và hiệp phương sai của mỗi cặp tài sản trong danh mục đầu tư.3 Phân loại rủi ro trong đầu tư chứng khoán -10- Rủi ro trong đầu tư chứng khoán thường được phân thành hai loại là rủi ro phi hệ thống và rủi ro hệ thống.1 Rủi ro phi hé thong Đây là loại rủi ro xảy ra trên từng loại chứng khoán. Những yếu tố như khả năng quản lý, mức độ sử dụng đòn bẩy tải chính của công ty, chu kỳ ngành. là nguyên nhân của rủi ro phi hệ thống. Khi số loại chứng khoán trong danh mục đầu tư tăng lên, rủi ro phi hệ thống giảm xuống nhưng rủi ro hệ thống không thay đổi.
Hay nói cách khác, rủi ro phi hệ thống có thể giảm thiểu nhờ đa dạng hóa nhưng rủi ro hệ thống không giảm được nhờ đa dạng. Khi số loại cỗ phiếu trong danh mục đầu tư đủ lớn, rủi ro phi hệ thống có thể được triệt tiêu hoàn toàn.2 Rúi ro hệ thống và các nhân tô. rủi ro hệ thống" * Khái niệm rủi ro hệ thống Rủi ro hệ thống là những sự cố xảy ra trong quá trình vận hành của hệ thống (nền kinh tế) và/hoặc những sự cố xảy ra ngoài hệ thống nhưng có tác động đến phần lớn hệ thống. Những rủi ro này gây ảnh hưởng đến giá của hằu hết các chứng khoán và không thể đa dạng hóa được.
* Các nhân tố rủi ro hệ thống Tuy thuat ngữ về rủi ro hệ thống là một thuật ngữ mới nhưng trong lịch sử nghiên cứu kinh tế, các nhà nghiên cứu cdc nl ứng dụng sử dụng các mô hình định giá APT (mô hình định lệnh lệch giá) đề định giá tài sản dựa trên nguyên lý cân bằng giữa rủi ro và tỷ suất lợi tức kỳ vọng. Hay nói cách khác, tỷ suất lợi tức kỳ vọng của tải sản tương ứng với mức rủi ro.