Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này tác giả làm rõ lý do thực hiện luận văn, mục tiêu và các vấn đề cần nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn. Chương 2: Nền tảng lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây. Trong chương này tác giả cung cấp các cơ sở lý luận và hệ thống các nghiên cứu trước đây của các nhà nghiên cứu trên thế giới về mối liên hệ giữa tính phòng ngừa rủi ro và trú ẩn an toàn của vàng đối với cổ phiếu.
Trên cơ sở những bằng chứng thực nghiệm này tác giả xây dựng phương pháp nghiên cứu của đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trong phần này tác giả trình bày các giả thiết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu, đồng thời mô tả các biến được sử dụng và làm rõ cách thức thu thập và xử lý dữ liệu. Chương 4: Các kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận.
Trong chương này tác giả tóm tắt và đưa ra kết luận chung cho toàn bộ nội dung luận văn, đồng thời xác định những điểm hạn chế của đề tài để tiếp tục hoàn thiện những điểm này trong các nghiên cứu tiếp theo. -7- CHƯƠNG 2: NỀN TẢNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Vai trò của vàng Vàng là tài sản phòng ngừa rủi ro đối với tỷ giá Không giống như các loại tiền tệ của các nước hiện nay như đồng đôla Mỹ, đôla Úc, đồng Yên…thường gắn liền với sự kiểm soát bởi chính phủ của đồng tiền nước đó và nền kinh tế của nước đó, sự tăng giảm của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng đến giá trị của đồng tiền nước đó, vàng là một loại tài sản đặc biệt bởi nó mang tính chất là phương tiện trao đổi nhưng lại không chịu sự kiểm soát hay ảnh hưởng bởi nền kinh tế cụ thể nào. Trong điều kiện thị trường gặp suy thoái hay lạm phát, vàng luôn là phương tiện hiệu quả để chống lại các điều kiện kinh tế bất lợi. Đặc biệt trong bối cảnh tình hình chính trị bất ổn, vàng là loại tài sản tích trữ duy nhất tương đối an toàn hơn so với các loại đồng tiền khác, bởi vàng luôn giữ được giá trị của mình dưới bất kỳ hoàn cảnh nào, trong khi đó giá trị các đồng tiền khác sẽ bị thay đổi theo diễn biến chính trị.
Nhiều nghiên cứu trong thực tế phát hiệt ra rằng khi đồng tiền USD đi xuống, vàng có xu hướng tăng giá là cho vai trò là công cụ phòng ngừa rủi ro của vàng đối với các biến động tiền tệ tiêu cực ngày càng gia tăng. Mối quan hệ giữa vàng và đồng đô la là một phát hiện thú vị trong bài nghiên cứu của Stephen A Baker và Roger C Van Tassel (1984), hai ông chỉ ra rằng một sự thay đổi trong giá vàng có thể được giải thích bởi các giá cả hàng hóa, sự thay đổi trong giá dola Mỹ và tỷ lệ lạm phát tương lai. Mối quan hệ nghịch biến của giá vàng và giá đồng đola là một phát hiện thú vị đối với các nhà đầu cơ vàng. -8- Vào tháng 01/2002 một ấn phẩm của Hội đồng vàng thế giới được phát hành có cùng quan điểm với các tác giả nghiên cứu trước đây là vàng là một công cụ phòng ngừa rủi ro đối với lạm phát và biến động của đồng đola Mỹ.
Từ sau tuyên bố của Hội đồng vàng thế giới (2002), đã có nhiều tác giả đi nghiên cứu mối quan hệ này. Điển hình là nghiên cứu của Capie Mills và các cộng sự (2005), họ đã dùng thực nghiệm và chứng tỏ rằng vàng là một công cụ phòng ngừa rủi ro, họ tìm thấy được khả năng phòng ngừa tỷ giá đối với vàng. Sjaastad (2008) đã phát hiện ra rằng sự tăng giảm của đồng Euro và Yên Nhật đối với đồng đola Mỹ đều ảnh hưởng sâu sắc lên giá vàng. Tương tự, Kuntara Pukthuanthong và Richard Rool (2001) đã chỉ ra rằng không chỉ có đồng đô la có mối tương quan âm với giá vàng mà ngay cả đồng Euro,Yên Nhật và Bảng Anh cũng có mối quan hệ này.
Vàng là tài sản phòng ngừa rủi ro đối với lạm phát Hội đồng vàng thế giới (2005) tuyên bố vàng là rào cản hiệu quả chống lạm phát, có tương quan nghịch với đồng đôla Mỹ và do đó là tiền tệ trú ẩn chống lại lạm phát tốt. Nếu vàng là hàng rào hoàn hảo trong nội bộ một quốc gia thì giá vàng tính theo đồng tiền nước đó nên tăng ở mức tương tự như chỉ số giá trong nước. Nếu vàng là hàng rào hoàn hảo bên ngoài một quốc gia thì giá vàng tính theo đồng tiên nước đó nên tăng tương tự như tỷ giá nước đó. Vàng được coi là hàng rào chống lại lạm phát nếu thay đổi trong lợi nhuận đầu tư vàng có thể bù đắp được những thay đổi trong mức giá chung của một quốc gia cụ thể.
Sherman (1986), Jaffe (1989), Chua và cộng sự (1990) đã chứng minh rằng vàng là một hàng rào hiệu quả chống lại lạm phát, tình trạng bất ổn chính trị và rủi ro tiền tệ. -9- Vàng là tài sản phòng ngừa rủi ro và trú ẩn an toàn đối với thị trường chứng khoán Thị trường vàng và thị thị trường chứng khoán thường có mối tương quan nghịch với nhau. Khi thị trường chứng khoán tăng điểm thì thị trường vàng có xu hướng giảm điểm và ngược lại. Nhiều nghiên cứu trước đây đã tìm ra rất nhiều bằng chứng chứng tỏ vai trò trú ẩn an toàn và phòng ngừa rủi ro của vàng.
Baur và Lucey (2010) tiến hành nghiên cứu mối quan hệ ổn định và thay đổi theo thời gian giữa TSSL của các cổ phiếu và trái phiếu trên thị trường Mỹ, Anh, Đức và TSSL của vàng để điều tra xem liệu rằng vàng là một công cụ phòng ngừa hay là một kênh trú ẩn an toàn? Với phương pháp tiếp cận dựa trên một mô hình GARCH bất đối xứng trong giai đoạn mẫu kéo dài từ 30/11/1995 đến 30/06/2005, TSSL của vàng được hồi quy dựa trên TSSL của cổ phiếu và trái phiếu và hai điều kiện tương tác này được kiểm tra để xem liệu rằng vàng có thực sự hoạt động như là một kênh trú ẩn an toàn nếu thị trường cổ phiếu hoặc trái phiếu sụt giảm hoặc có TSSL cực kỳ âm hay không. Các phân tích thực nghiệm tập trung vào ba thị trường tài chính lớn (Mỹ, Anh và Đức) bằng ba đơn vị tiền tệ khác nhau (U. pound and the Euro) để kiểm tra sự khác nhau và giống nhau trong vai trò của vàng trên 3 thị trường này. Họ nhận thấy rằng vàng là một kênh trú ẩn an toàn đối với cổ phiếu tại Mỹ, Anh và Đức.
Vàng cũng là một công cụ phòng ngừa đối với chứng khoán tại Anh và Mỹ. Dựa trên nghiên cứu của Baur và Lucey (2010), Baur và McDermott (2010) cũng kiểm tra giả thiết cho rằng vàng như là một kênh trú ẩn an toàn đối với cổ phiếu của hầu hết các nước mới nổi và các nước phát triển. Họ đã tìm thấy bằng chứng cho thấy vàng vừa là công cụ phòng ngừa, vừa là kênh trú ẩn an toàn đối với hầu hết các thị trường chứng khoán phát triển ở Châu Âu và Mỹ, đặc biệt là trong giai đoạn đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng tài chính gần đây.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây Những ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009 đã làm thị trường cổ phiếu ở hầu hết các quốc gia thế giới rơi suy giảm nghiêm trọng cùng với sự gia tăng đáng kể của giá vàng trong thời gian trên đã tạo động lực cho các nhà kinh tế đi kiểm tra xem liệu vàng có phải tài sản đầu tư phù hợp để giảm thiểu các khoản lỗ của cổ phiếu trên thị trường tài chính hay không. Vàng là tài sản phòng ngừa rủi ro đối với tiền tệ, chứng khoán và giá dầu Brian Lucey, Edel Tully và Valerio Poti (2004) nghiên cứu khả năng phòng ngừa của vàng đối với chứng khoán bằng cách thiết lập và so sánh sự khác biệt giữa tỷ trọng tối ưu của các tài sản trong một danh mục gồm vàng-chứng khoán khi các tỷ trọng này được xác định bằng hai phương pháp khác nhau: phương pháp tối ưu hóa tỷ trọng theo kỳ vọng – phương sai của Markowitz và phương pháp tối ưu hóa tỷ trọng theo kỳ vọng - phương sai - độ nghiêng.
Bài nghiên cứu xác định tỷ trọng tối ưu đối với danh mục gồm vàng và một số chỉ số chứng khoán như NYSE Composite, NASDAQ Composite, TOPIX, FTSE. với mẫu nghiên cứu lần lượt là dữ liệu theo quý, tháng và tuần của các chỉ số trên trong suốt giai đoạn từ 1988-2003. Kết quả tính toán tỷ trọng tối ưu cho thấy vàng hiện diện trong hầu hết các danh mục tối ưu với tỷ trọng dao động từ 2%-25% đối với cả hai phương pháp xác định tỷ trọng được áp dụng. Kết quả này cho thấy vai trò của vàng như là công cụ phòng ngừa chống lại biến động trong thị trường chứng khoán.
Forrest Capie, Terence C Mills, và Geoffrey Wood (2005) xem xét vàng có thể là một công cụ phòng ngừa hiệu quả chống lại biến động đồng đô la Mỹ bằng cách tính toán một hệ số co dãn cho một mô hình phản ánh sự thay đổi của vàng đối với những biến động trong tỷ giá hối đoái, sau đó đo lường chất lượng phòng ngừa của nó. Dữ liệu trong bài nghiên cứu được lấy theo tuần từ thị trường London trong giai đoạn từ năm 1971 đến tháng 6/ 2002 và một vài giai đoạn nhỏ khác, đặc biệt chú ý đến đặc tính - 11 - phòng ngừa của vàng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế và chính trị. Trong bộ dữ liệu, giá vàng có mức độ biến động mạnh hơn các quan sát trong tỷ giá hối đoái nên các tác giả quyết định biến đổi những chuỗi này bằng cách lấy logarit, để ổn định các biến. Những thay đổi khác nhau của giá vàng trong thập niên 70, và chế độ tỷ giá khác nhau từ 1971-2002, câu hỏi được đặt ra tiếp theo là liệu mối quan hệ giữa vàng và tỷ giá có thay đổi theo thời gian hay không.
Để nghiên cứu điều này, các tác giả dùng những đồ thị phân tán của lô ga rit giá vàng đối với mỗi tỷ giá hối đoái. Kết quả thu được cho thấy, giá vàng được tính theo đô la dịch chuyển đồng thời và ngược chiều so với đồng đô la Mỹ. Hơn nữa, phản ứng của giá vàng chứng tỏ sự ổn định đáng kể theo thời gian. Dù quan sát toàn bộ hay trong từng khoảng thời gian nhỏ, đáng chú ý là phản ứng của giá vàng vẫn ổn định.