Chương 1 giới thiệu bối cảnh chính sách, trong đó bao gồm vấn đề chính sách, câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu. Chương 2 trình bày dự án đầu tư cụ thể, bao gồm tổng mức đầu tư dự án, chi phí đầu tư dự án, cơ chế tài chính và cấu trúc dự án. Chương 3 trình bày khung phân tích, bao gồm khung phân tích kinh tế, khung phân tích tài chính, phương pháp đánh giá dự án khả thi và hiệu quả về mặt kinh tế, tài chính. Chương 4, chương 5 tính toán cụ thể hiệu quả kinh tế, tài chính và hiệu quả phân phối dựa trên khung phân tích ở chương 3.
Chương 6 đưa ra kết luận và khuyến nghị chính sách. 4 CHƯƠNG 2 MÔ TẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ Nội dung chương 2 giới thiệu khái quát về dự án đầu tư, bao gồm: giới thiệu dự án, quy mô đầu tư, tổng vốn đầu tư và cơ cấu vốn. Giới thiệu dự án Chủ đầu tư dự án là cảng Đà Nẵng, thuộc Tổng công ty hàng hải Việt Nam (Vinalines), hiện tại quản lý hai khu cảng chính là Xí nghiệp cảng Tiên Sa và Xí nghiệp cảng Sông Hàn, với năng lực khai thác tối đa của toàn cảng đạt 5,5 triệu tấn/năm. Mục tiêu đầu tư nhằm xây dựng bến cảng Sơn Trà thành khu cảng biển tổng hợp, tiếp nhận cỡ tàu đến 10.000 DWT đầy tải và tàu lớn hơn giảm tải.
Tổng công suất khai thác của cảng đến năm 2020 đạt 1,5 triệu tấn/ năm, trong đó cho hàng tổng hợp là 1,1 triệu tấn/ năm và hàng container là 40.000 TEU/ năm nhằm đáp ứng di dời Cảng Sông Hàn, hỗ trợ Cảng Tiên Sa. Dự án được xây dựng trên khu đất thuộc phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, có diện tích sử dụng là 100. Đây là khu đất trống, thuộc quy hoạch của thành phố, UBND giao cho cảng Đà Nẵng sử dụng và hàng năm trả tiền thuê đất theo quy định. Thời gian dự kiến xây dựng dự án là quý IV/2009.
Dự án gồm 2 giai đoạn: giai đoạn 1: thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư, san lấp toàn bộ khu đất, xây dựng hoàn thiện 01 bến và kè sau bến cùng các hạng mục công trình phụ trợ; giai đoạn 2: thực hiện đầu tư hoàn thiện bến số 2 và các hạng mục công trình còn lại. Tuy nhiên, đến thời điểm đầu năm 2013, cảng Đà Nẵng và UBND chưa đạt được thỏa thuận về mức hỗ trợ cảng Đà Nẵng di dời khu bến Sông Hàn nên dự án vẫn chưa được khởi công xây dựng. UBND đã ra quyết định cưỡng chế cảng Đà Nẵng phải di dời khu bến Sông Hàn trước ngày 31. Do đó, chủ đầu tư điều chỉnh dự án cảng Sơn Trà sẽ được xây dựng trong thời gian 2 năm, 2013 – 2014.
Thời gian khai thác dự án là 30 năm sau thời gian xây dựng. Quy mô đầu tư Cảng Sơn Trà có khả năng tiếp nhận tàu 10.000 DWT với công suất cảng đạt 1,5 triệu tấn/năm nhằm đáp ứng nhu cầu di dời khu bến cảng Sông Hàn và hỗ trợ bến cảng Tiên Sa. Các hạng mục công trình chính đầu tư bao gồm: Thứ nhất, san lấp tạo mặt bằng, xây dựng 400m cầu tàu cho tàu 10.000 DWT cùng hệ thống kè bờ, đường bãi, kho hàng, các công trình phụ trợ và các công trình kỹ thuật đồng bộ; Thứ hai, đầu tư một số thiết bị xếp dỡ cần thiết phù hợp với cơ cấu và lượng hàng hóa dự báo thông qua cảng nhằm đảm bảo quá trình hoạt động khai thác cảng. Tổng vốn đầu tư và cơ cấu vốn Năm 2009, cảng Đà Nẵng đã thuê Công ty CP tư vấn ĐTXD Hàng Hải lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và tư vấn thiết kế dự án.
Dự án cảng Sơn Trà đã được cảng Đà Nẵng phê duyệt đầu tư với tổng vốn là 454,116 tỷ đồng. Cụ thể các hạng mục đầu tư dự án được thể hiện ở bảng 2.1: Tổng vốn đầu tư dự án t eo năm 2009 Nguồn: Tổng công ty hàng hải Việt Nam, Quyết định số 604/QĐ-HĐQT ngày 21 tháng 8 năm 2009. Cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho dự án bao gồm: 35% nguồn vốn được vay vốn từ NHTM, 35% nguồn vốn được huy động từ các pháp nhân khác và phần vốn còn lại được tài trợ từ vốn chủ sở hữu. Cảng Đà Nẵng dự kiến sau khi dự án xây dựng xong sẽ thành lập công ty cổ phần để quản lý và vận hành cảng.
Dự án có cấu trúc như trong hình 2.1: Cấu trúc dự án xây dựng cảng Sơn Trà Nguồn: Tổng công ty hàng hải Việt Nam, Quyết định số 604/QĐ-HĐQT ngày 21 tháng 8 năm 2009. 7 CHƯƠNG 3 KHUNG PHÂN TÍCH Nội dung chương 3 trình bày khung phân tích lợi ích và chi phí liên quan đến kinh tế, tài chính và phân phối mà luận văn sử dụng để đánh giá dự án. Khung phân tích kinh tế Phân tích kinh tế được tiến hành đánh giá lợi ích và chi phí kinh tế, nhằm đưa ra quyết định có nên thực hiện dự án hay không trên quan điểm cả nền kinh tế. Việc phân tích và đánh giá tính khả thi kinh tế của dự án được dựa trên quan điểm giữ lại cảng hiện hữu hoặc xây dựng cảng mới.
Lợi íc kin tế Đối với dự án xây dựng cảng Sơn Trà, lợi ích kinh tế bao gồm: thứ nhất, lợi ích kinh tế từ phục vụ lượng hàng tăng thêm so với cảng cũ. Thứ hai, lợi ích từ tiết kiệm thời gian chờ đợi của chủ tàu và chủ hàng. Thứ ba, lợi ích kinh tế từ khoảng đất tại cảng hiện hữu. Dựa vào đồ thị trong hình 3.1, ta có khối lượng hàng hóa thông qua cảng cũ là V0, khi xây dựng cảng Sơn Trà, khối lượng hàng hóa thông qua cảng tăng lên và đạt mức V1.
Mức giá kinh tế cho các loại dịch vụ tại cảng là T0, mức giá này bao gồm mức phí các dịch vụ tại cảng và thuế VAT cho các dịch vụ này. C0 là tổng chi phí của chủ tàu và chủ hàng hóa trong trường hợp tàu neo đậu tại cảng cũ, trong đó C0 = T0 + W0 với W0 là chi phí thời gian của tàu và hàng hóa tại cảng cũ. C1 là tổng chi phí của tàu và chủ hàng hóa trong trường hợp tàu neo đậu tại cảng Sơn Trà, trong đó C1 = T1 + W1 với W1 là chi phí thời gian và tàu và hàng hóa tại cảng Sơn Trà. Như vậy, lợi ích kinh tế từ phục vụ lượng hàng hóa tăng thêm so với cảng hiện hữu là phần diện tích DEV1V0, lợi ích kinh tế từ việc tiết kiệm thời gian của chủ tàu và tiết kiệm thời gian của chủ hàng hóa kể cả lượng hàng hóa hiện hữu và lượng hàng hóa tăng thêm là phần diện tích ABC1C0.
Trong đó, lợi ích kinh tế từ tiết kiệm thời gian của chủ tàu được tính bằng thời gian tàu lưu bãi giảm (được tính bằng ngày) nhân với giá dịch vụ lưu bãi (giá tài chính + thuế VAT) nhân với số lượt tàu trong năm. Đối với lợi ích kinh tế từ tiết kiệm thời gian của chủ hàng 8 hóa, trong luận văn này, giả định toàn bộ giá trị hàng hóa đều được tài trợ bằng vốn vay ngân hàng, nên lợi ích kinh tế được tính bằng giá trị trung bình một tấn hàng hóa nhân với số lượng hàng hóa thông qua cảng trong năm nhân với lãi suất vay ngân hàng bình quân một ngày.1: Minh họa khung phân tích lợi ích kinh tế Nguồn: Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, Cải tạo và mở rộng cảng: dự án Makar tại Philippines, Phần VI, (1994). Tiết kiệm thời gian chờ đợi của tàu và hàng hóa còn giảm lượng hàng hóa (hàng nông sản, hàng đông lạnh…) hư hỏng, từ đó làm tăng lợi ích kinh tế của dự án. Tuy nhiên, các thông số về loại hàng hóa hạn chế nên đề tài không lượng hóa lợi ích kinh tế này.
Ngoài ra, sau khi di dời cảng hiện hữu ra vị trí mới, UBND sẽ được một khu đất của cảng cũ (với diện tích là 25,255 m2) ngay trung tâm thành phố có giá trị kinh tế cao hơn. Theo Ngân hàng thế giới, cách tính giá trị kinh tế của khoảng đất này được tính theo phương pháp gián tiếp, không thể tính theo phương pháp trực tiếp sử dụng giá thị trường có điều chỉnh khỏi các méo mó vì cung đất đai hoàn toàn không co giãn. Để đo lường giá trị của 9 đất đai trong các cách sử dụng khác, người ta phải ước định một mức giá bằng cách tính toán NPV của giá thuê đất, được thể hiện theo công thức: V R/(i g) Trong đó, V là giá trị ước định của khu đất, R là tiền thuê đất hoặc thu nhập hàng năm từ đất, i là lãi suất hay chi phí cơ hội của vốn và g là tốc độ tăng thực tế kỳ vọng của giá thuê đất. Chi phí kinh tế Điều chỉnh chi phí đầu tư ban đầu bao gồm chi phí xây dựng, máy móc thiết bị, nhân công… theo hệ số chuyển đổi kinh tế.
Chi phí hoạt động kinh tế được tính theo năm hoạt động hiện tại của chi phí hoạt động tài chính và chỉ tính chi phí hoạt động cần cho lượng hàng hóa tăng thêm, nhưng loại trừ chi phí lãi vay và thuế thu nhập doanh nghiệp. Ngoài ra, hàng hóa thông qua cảng Sơn Trà chủ yếu phục vụ cho các khu công nghiệp trong thành phố, khi thay đổi vị trí của cảng Sông Hàn ra khu vực Sơn Trà, Thọ Quang làm tăng khoảng cách giữa cảng Sơn Trà vào các khu công nghiệp trung bình là 5km, vì vậy làm tăng chi phí vận chuyển bằng xe từ cảng đến nơi phân phối, đây cũng là làm tăng chi phí kinh tế. (Xem Phụ lục 3.1) Xác định chi phí vốn kinh tế của dự án được xác định dựa trên chi phí cơ hội kinh tế của vốn đối với nền kinh tế. Xác địn và ước lượng ngân lưu ròng kin tế của dự án Xác định ngân lưu ròng kinh tế của dự án bằng cách lấy giá trị lợi ích kinh tế trừ đi giá trị chi phí kinh tế.
Khung phân tích tài chính Phân tích tài chính nhằm đánh giá dự án có khả thi hay không dựa trên quan điểm tổng đầu tư và quan điểm chủ đầu tư, vì vậy, việc phân tích và đánh giá tính khả thi tài chính của dự án được dựa trên quan điểm có dự án hoặc không có dự án. 2 Belli, Anderson và đồng tác giả (2002, tr. Lợi íc tài c ín Lợi ích tài chính của dự án chủ yếu từ các nguồn: doanh thu từ khai thác dịch vụ bến đỗ cho tàu, doanh thu từ dịch vụ xếp dỡ và doanh thu từ dịch vụ kho bãi.