Chương 1.Lý luận chungvề phân tích báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp.Thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần Bibica Chương3. Giải pháp hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần Bibica. LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính 1.
Báo cáo tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm báo cáo tài chính Theo giáo trình phân tích báo cáo tài chính của tác giả Nguyễn Năng Phúc thì “Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cảu đơn vị. Theo đó, báo cáo tài chính chứa đựng những thông tin tổng hợp, toàn diện nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kì của doanh nghiệp.” Chính vì vậy báo cáo tài chính doanh nghiệp là căn cứ quan trọng cho việc đề ra quyết định quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách thích hợp, giúp cho chủ doanh nghiệp sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả vốn và các nguồn lực, nhà đầu tư có được quyết định đúng đắn đối với sự đầu tư của mình, các chủ nợ được bảo đảm về khả năng thanh toán của doanh nghiệp về các khoản cho vay, Nhà cung cấp và khách hàng đảm bảo được việc doanh nghiệp thực hiện các cam kết, các cơ quan Nhà nước có được các chính sách phù hợp để hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như kiểm soát được doanh nghiệp bằng pháp luật. Hệ thống báo cáo tài chính kế toán của doanh nghiệp Hiện nay, hệ thống báo cáo tài chính kế toán của doanh nghiệp theo chế độ kế toán hiện hành ban hành theo Thông tư 200/2014- TT/BTC ngày 22 tháng 12 năm 2015 của Bộ Tài chính bao gồm 4 báo cáo chủ yếu sau: Bảng cân đối kế toán, mẫu số B01-DN.
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, mô tả thực trạng tài chính của một khách hàng tại một thời điểm nào đó. Bảng cân đối kế toán thường được lập vào cuối kỳ kinh doanh: cuối tháng, cuối quý, cuối năm. Kết 1 cấu của bảng có thể theo dạng dọc hoặc ngang nhưng đều có hai phần: tài sản và nguồn vốn có giá trị bằng nhau. Phần tài sản ghi nhận quy mô, kết cấu của toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo, được chia làm hai mục lớn là: tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn; tài sản cố định và đầu tư dài hạn.
Các khoản mục trong phần tài sản được sắp xếp theo thứ tự tính thanh khoản, tức là khả năng, thời gian và chi phí chuyển đổi sang tiền mặt, giảm dần. Phần nguồn vốn ghi nhận quy mô, kết cấu của nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp, bao gồm hai mục lớn là nợ phải trả và vốn chủ sở hữu cho thấy quy mô, mức độ tự chủ về tài chính của khách hàng. Ngoài ra còn có các chỉ tiêu ngoài bảng cân đối kế toán như: tài sản thuê ngoài, nợ khó đòi đã xử lý, ngoại tệ các loại. Dựa vào bảng cân đối kế toán, các bộ phân tích có thể tính được khả năng thanh toán của khách hàng thông qua tỷ lệ TSLĐ/Nợ ngắn hạn, và tính được tỷ số đòn bẩy: Nợ phải trả/Tổng tài sản.
Phần lớn các chỉ tiêu PTTCKH khác chỉ tính được khi kết hợp bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Báo cáo kết quả kinh doanh, mẫu số B02-DN. Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là báo cáo tổng hợp cho biết tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng trong một thời kỳ. Báo cáo kết quả kinh doanh gồm những mục chính như: thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, từ hoạt động tài chính, từ hoạt động bất thường và giá vốn hàng bán, chi phí hoạt động tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bất thường.
Báo cáo này được sử dụng nhiều nhất trong phân tích tình hình tài chính của khách hàng vì nó cho biết các yếu tố như chi phí, doanh thu của doanh nghiệp. Kết hợp với bảng cân đối kế toán, cán bộ phân tích có thể tính được hầu hết các chỉ tiêu: khả năng kiểm soát chi phí, hiệu quả hoạt động trong việc tận dụng các nguồn lực để tạo ra doanh thu, khả năng tiêu thụ sản phẩm, khả năng trang trải các chi phí tài chính, khả năng thanh toán, quy mô nợ đòn bẩy. Tuy nhiên do nguyên tắc kế toán, báo cáo này có hạn chế là doanh thu và chi phí ghi nhận theo giá trị sổ sách. Doanh thu được ghi nhận khi khách hàng 2 chấp nhận thanh toán, chi chí được ghi nhận khi doanh nghiệp chấp nhận chi trả.
Thực tế việc chi trả chưa diễn ra, do vậy kết quả phân tích nhiều khi chưa chính xác. Nên nhân viên phân tích phải sử dụng báo cáo lưu chuyển tiền tệ để thấy được chênh lệch giữa doanh thu với số tiền thực tế nhận được khi bán hàng hoá dịch vụ, chênh lệch giữa chi phí với số tiền thực tế phải chi trả khi mua hàng. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, mẫu số B03-DN. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có thể được lập từ bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, thuyết minh báo cáo tài chính, báo cáo lưu chuyển tiền tệ kỳ trước, theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp và cho biết các yếu tố như:lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh, từ hoạt động đầu tư và từ hoạt động tài chính Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho biết thông tin về nguồn tiền ra vào, nguồn cung cấp tiền và sử dụng tiền.
Trái với báo cáo kết quả kinh doanh chỉ cho biết doanh thu, chi phí và lợi nhuận, không cho biết tiền tạo ra sử dụng vào việc gì; hạn chế trong việc đánh giá khả năng tạo ra tiền và nhu cầu tiền của doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho biết sự khác biệt giữa lợi nhuận thuần và lưu chuyển tiền mặt. Nhờ vậy, dù báo cáo này ít được sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp nhưng vẫn cần thiết trong quá trình phân tích khách hàng nói chung. Bản thuyết minh báo cáo tài chính, mẫu số B04-DN.
Thuyết minh báo cáo tài chính là báo cáo quan trọng và bổ sung thêm những thông tin về doanh nghiệp chưa được phản ánh trong ba báo cáo tài chính trên như: đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (hình thức sở hữu, lĩnh vực kinh doanh, tổng lao động); chính sách kế toán áp dụng (niên độ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng, phương pháp kế toán). Ngoài ra thuyết minh chi tiết một số chỉ tiêu đã có trong các báo cáo tài chính nhưng chưa được trình bày giải thích rõ ràng, như: chi phí sxkd theo các yếu tố, chi tiết về hàng tồn kho, tăng giảm tài sản cố định, tăng giảm vốn chủ sở hữu, các khoản phải thu, phải trả, tình hình tăng giảm đầu tư ngắn hạn, dài hạn. 3 Hoạt động phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp đòi hỏi phải sử dụng kết hợp các báo cáo tài chính và chỉ lựa chọn những yếu tố cần thiết để tính toán các chỉ tiêu. Ngoài ra, để phục vụ cho yêu cầu quản lý kinh tế tài chính, yêu cầu chỉ đạo mà các ngành, các công ty, các tập đoàn sản xuất, các liên hiệp xí nghiệp, các công ty liên doanh có thể quy định thêm các báo cáo tài chính kế toán khác.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu đề tài, chúng ta sẽ đề cập đến các báo cáo cơ bản như đã trình bày ở trên. Vai trò của báo cáo tài chính Một là, cung cấp những chỉ tiêu kinh tế tài chính cần thiết, giúp kiểm tra phân tích một cách tổng hợp toàn diện có hệ thống tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính chủ yếu của doanh nghiệp. Hai là, cung cấp thông tin, số liệu để kiểm tra, giám sát tình hình hạch toán kinh doanh, tình hình chấp hành các chính sách chế độ kế toán - tài chính của doanh nghiệp. Ba là, cung cấp thông tin và số liệu cần thiết để phân tích và đánh giá tình hình, khả năng về tài chính- kinh tế của doanh nghiệp, giúp cho công tác dự báo và lập kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp.
Mục đích của báo cáo tài chính: Thứ nhất, tổng hợp và trình bày một cách tổng quát và toàn diện tình hình biến động về tài sản công nợ và nguồn vốn chủ sở hữu, tình hình kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán. Thứ hai, cung cấp các thông tin kinh tế tài chính chủ yếu phục vụ việc đánh giá, phân tích tình hình kết quả hoạt động kinh doanh đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua ,làm cơ sở để đưa ra các quyết định kinh tế trong tương lai Như vậy, có thể nói hệ thống báo cáo tài chính là công cụ đắc lực để phục vụ nhu cầu quản trị, quản lý tài chính của doanh nghiệp tuy nhiên mỗi BCTC riêng biệt cung cấp cho người đọc một khía cạnh hữu ích, những thông tin bổ ích khác 4 nhau. Do đó để có một đánh giá tổng thể về tình hình tài chính doanh nghiệp đòi hỏi phải có sự phân tích kết hợp các thông tin từ các báo cáo tài chính. Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp * Khái niệm phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Phân tích BCTC là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua.
Thông qua việc phân tích BCTC sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về mặt tài chính trong tương lai của doanh nghiệp. Phân tích BCTC doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu khách quan, ra đời và phát triển từ đòi hỏi của đời sống kinh tế, từ yêu cầu phải quản lý khoa học và có hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Việc phân tích BCTC không phải là một quá trình tính toán các tỷ số mà là quá trình tìm hiểu các kết quả của sự quản lý và điều hành tài chính ở đơn vị được phản ánh trên BCTC đó.