mở đầu và kết thúc rất rõ ràng. Kết thúc đạt được khi mục tiêu của dự án đã dat được hoặc khi dự án được chấm dứt bởi vì mục tiêu của nó sẽ không hoặc không thể được đạt được, hoặc khi sự cần thiết cho dự án không còn tồn tại. Một dự án cũng có thể được châm dứt nếu khách hàng (khách hàng, nhà tài trợ) muốn cham dứt dự án [22].2 Dự án đầu tư Theo Luật Đầu Tư [5] thì dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dai hạn dé tiễn hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thẻ, trong khoảng thời gian xác định. Các đặc điểm của dự án đầu tư: Các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án: Khi thực hiện dự án, sẽ mang lại những lợi ích gì cho đất nước nói chung và cho chủ đâu tư nói riêng.
Các kết quả: Đó là những kết quả được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện can thiết dé thực hiện các mục tiêu của dự án. Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án dé tạo ra các kết quả nhất định, cùng với một lịch biéu và trách nhiệm của các bộ phận sẽ được tạo thành kế hoạch làm việc của dự án. Các nguồn lực: Hoạt động của dự án không thé thực hiện được nếu thiểu các nguồn lực về vật chat, tài chính và con người.
Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn dau tu cho các dự án. Thời gian: Độ dài thực hiện dự án đầu tư cần được có định. HVTH: PHAN NGÃI 12 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. ĐINH CÔNG TỊNH 2.2 Dự án PPP Mai Thị Thu và các tác giả khác (2013) [6] đã nghiên cứu nhiều khái niệm, định nghĩa về PPP trên toàn thé giới.
Và đưa ra 1 số khái niệm phổ biến trên thé giới. Ví dụ như: Số tay hướng dẫn vé PPP do Ngân hang phát triển châu A (ADB) phát hành năm 2008 coi thuật ngữ “mối quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân” miêu tả một loạt các mối quan hệ có thể có giữa các tổ chức nhà nước và tô chức tư nhân liên quan đến lĩnh vực cơ sở hạ tầng và các lĩnh vực dịch vụ khác”. Có nhiều dạng khái niệm, định nghĩa về PPP. Nhưng xét về bản chất thì các khái niệm vẫn bao gồm các tính chất sau: PPP là một hình thức hợp tác giữa Nhà nước và khu vực tư nhân, nhăm tích hợp được những điểm mạnh/lợi thế nhất của cả hai khu vực này trong việc thực hiện một dự án nào đó [6].3 Dự án BOT Mai Thị Thu và các tác giả khác [6] tổng hợp các đặc trưng của phương thức PPP, BOT.
BOT là một phương thức PPP trong đó khu vực nhà nước và đối tác tư nhân thoả thuận cho phép đối tác tư nhân bỏ vốn xây dựng (bao gồm: xây mới, nâng cấp, phát triển) công trình cơ sở hạ tang và được phép kinh doanh (vận hành, khai thác) công trình cơ sở hạ tang đó trong một thời hạn nhất định nham thu lại chi phí đã bỏ ra và thu một khoản lợi nhuận. Kết thúc thời hạn hợp đồng, đối tác tư nhân phải chuyển giao không bồi hoàn công trình cơ sở hạ tang cho khu vực nhà nước. Đặc điểm chính của BOT là: Đây là một mô hình quan trọng, hữu hiệu dé huy động vốn đầu tư từ khu vực tư nhân trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp. Việc tài trợ dự án và các rủi ro tài chỉnh, rủi ro hoạt động được chuyển sang khu vực tư nhân.
Đối tác tư nhân thực hiện dự án thường tính toán kỹ lưỡng khả năng thu phí để làm cơ sở thoả thuận thời hạn của hợp đồng, đặc biệt là thời hạn khai thác công trình cơ sở hạ tầng. Giai đoạn khai thác, kinh doanh chu yếu xác định bang độ dài thời gian can thiết để doanh thu từ công trình trả hết được chi phí vốn dau tư của HVTH: PHAN NGÃI 13 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. ĐINH CÔNG TỊNH doanh nghiệp và tạo ra được một tỷ suất sinh lời hợp lý cho việc đầu tư và rủi ro mà doanh nghiệp đó phải chịu. Dé thực hiện dự án BOT, đòi hỏi có nhiều hợp đồng được ký kết, song hợp đồng BOT là cơ sở pháp lý quan trọng nhất, là tiền đề cho việc hình thành doanh nghiệp BOT và việc ký kết các hợp đồng liên quan để thực hiện dự án.
Hợp đồng BOT là tập hợp các thỏa thuận cho phép nhà đầu tư quyên được thực hiện dự án với những cam kết đối với nhà nước trong việc phát triển công trình cơ sở hạ tang. Hợp đồng BOT vừa được xem xét dưới góc độ là một quá trình (từ giai đoạn xây dựng - kinh doanh - đến chuyên giao), ở khía cạnh này, hợp đồng BOT luôn đi kèm với một dự án BOT và là cơ sở hình thành và phát triển dự án BOT. Chính vì vậy, hợp đồng BOT thường được gọi là hợp đồng dự án. Bên cạnh đó Hợp đồng BOT cũng được coi là một hợp đồng nhượng quyên (concession), ở đó đối tác tư nhân được nhượng quyên thực hiện xây dựng, kinh doanh chứ không phải là bị buộc phải xây dựng, kinh doanh.
Đối tác tư nhân có thể tự mình bỏ toàn bộ vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, song cũng có thé vay vốn từ ngân hang (ty lệ vốn vay theo quy định của nha nước). Điểm đặc biệt trong việc huy động vốn vay ở mô hình BOT là: việc tài trợ cho dự án BOT bởi các bên cho vay thường không phụ thuộc vào giá trị tài sản dùng để bảo lãnh của nha dau tư hoặc giá trị tài sản hữu hình của bản thân dự án như các hợp đồng tin dụng truyền thống, mà thường phụ thuộc chủ yêu vao tính hiệu quả và kết quả kinh doanh của chính dự án. Các bên cho vay thường xem xét tới nguồn thu của dự án để hoàn trả lại vốn vay thay vì các nguồn tài sản bảo đảm. Nét đặc trưng của việc đầu tư theo phương thức hợp đồng BOT thé hiện tính phức tạp, tính xã hội va tính đặc thù của hợp đồng BOT.
Hợp đồng BOT thường là một hợp đồng dài hạn (khoảng 20-30 năm).2 Tài chính của dự án đầu tư 2.1 Ngân lưu dự án đầu tư Kế hoạch ngân lưu trình bày chi tiết tat cả các khoản thực thu, thực chi băng tiền dự kiến hàng năm trong suốt vòng đời dự án. Ngân lưu ròng của dự án được HVTH: PHAN NGÃI 14 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. ĐINH CÔNG TỊNH xác định căn cứ vào kế hoạch dau tư, kế hoạch tài chính và kế hoạch sản xuất kinh doanh của dự án.1 Phương pháp xây dựng kế hoach ngân lưu Theo Nguyễn Tan Binh [7], phương pháp trực tiếp: nguyên tac lập báo cáo ngân lưu theo phương pháp trực tiếp là ngân lưu ròng của dự án sẽ được xác định bang cách lay giá trị ngân lưu vảo trừ giá trị ngân lưu ra từ các hoạt động dau tư, hoạt động tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của dự án. Theo Nguyễn Tân Binh [7], phương pháp gián tiếp (theo cách của kế toán): ngân lưu ròng từ hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ được điều chỉnh từ lợi nhuận, còn ngân lưu ròng từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính được xác định giống phương pháp trực tiếp.2 Sơ đồ ngân lưu của dự án Theo Nguyễn Tan Binh [7], sơ đồ ngân lưu dự án là sơ đồ biểu diễn dòng tiền thu chi trong các năm của dự án.
Gini đoạn đâu tr Giant doan van hanh L— bạn dau Thu trừ 123 45 678 9 © 1Ì 12 13 l4 chi NAM HOAT ĐỘNG CUA DỰ AN Hình 2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế — tài chính của dự án Theo Nguyễn Tân Binh [7], thâm định giá trị tài chính của bat kỳ dự án dau tư nào điều liên quan đến ba bước, được xác định cụ thể như sau: Bước 1: Ước tính các dòng tiền có liên quan. Bước 2: Tính toán các chỉ tiêu đánh giá dự án đầu tư. Bước 3: So sánh các chỉ tiêu đánh giá của dự án với các chỉ tiêu đã được chấp nhận HVTH: PHAN NGÃI 15 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. ĐINH CÔNG TỊNH 2.1 Chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần (NPV).
Khái niệm: Giá trị hiện tại ròng (NPV) là hiệu số giữa hiện thực thu băng tiền và hiện thực chi băng tiền trong suốt quá trình của dự án. Công thức NPV = Theo ene 2 Trong do: Bt: Thu nhập của dự án năm thứ t Ct: Chi phí của dự án năm thứ t r: Suất chiết khấu của dự án t: Số năm thực hiện dự án Quy tắc đánh giá dự án bằng chỉ tiêu NPV NPV >0: Chấp nhận dự án NPV <0: Bác bỏ dự án NPV=0: Dự án hòa vốn, có thé chấp nhận 2.2 Chỉ tiêu suất sinh lời nội bộ IRR Khái niệm Suất sinh lời nội bộ (IRR) là suất chiết khâu mà tại đó hiện giá dòng tiền ròng đã xác định của dự án băng 0 (NPVr* = 0 thì r* = IRR). Công thức NPV = Deo eae =0 > r* = IRR (22) Trong do Bt: Thu nhập của dự án năm thứ t Ct: Chi phí của dự án năm thứ t r*: Suat chiết khâu của dự án t: Số năm thực hiện dự án Quy tắc đánh giá dự án băng chỉ tiêu IRR HVTH: PHAN NGÃI 16 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. ĐINH CÔNG TỊNH IRR >rr: Chấp nhận dự án IRR <r: Bac bỏ dự án IRR =r: Dự án hòa von Cách tính IRR Dùng phương pháp thứ: Cho các suất chiết khâu khác nhau.
Tìm một suất chiết khấu r* sao cho NPV r*=0, suất chiết khâu r* chính là IRR. Dùng phương pháp ước lượng: Bước 1: Tim R1 sao cho NPV1>0 Bước 2: Tìm R2 sao cho NPV2<0 Bước 3: Áp dụng công thức NPV, IRR = R, + Rạ+(R;¿ —R¿) (2.3 Rui ro va quan ly rui ro 2.1 Rui ro Rui ro là những yếu tô không chắc chắc hay bất định tác động tích cực hoặc tiêu cực đến mục tiêu của dự án mà chúng ta không lường trước được, Rủi ro làm cho kết quả dự án chệch hướng so với dự tính ban đầu. Dựa vào kết qua tác động của rủi ro thi ta chia rủi ro làm 2 loại: rủi ro có lợi và rủi ro bất lợi (ví dụ: như giá vật tư tăng, giá vật tư giảm, lãi suất tăng, lãi suất giam. Thông thường người ta hay chú ý đến những rủi ro bat lợi vi chúng gây ra những mat mát, bat lợi và thiệt hai cho dự án.