Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế, khu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đã có những chuyển biến rõ nét. Kinh tế hộ nông dân ngày càng khẳng định vai trò là đơn vị kinh tế tự chủ đặc thù, đóng góp vào việc giải quyết việc làm, ổn định đời sống xã hội và bảo đảm an ninh lương thực. Mặc dù chiếm hơn 70% dân số cả nước, sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân nhìn chung vẫn mang nặng tính chất tự cung tự cấp, quy mô manh mún và nhỏ lẻ. Thu nhập của người nông dân đang đứng trước thách thức suy giảm do giá nông sản đầu ra không tăng tương xứng với tốc độ tăng liên tục của các loại vật tư nông nghiệp đầu vào (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhiên liệu).
Xã Hiền Đa, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ là địa bàn thuần nông, nhân dân sinh sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Mặc dù tỷ lệ hộ khá tăng và hộ nghèo giảm trong những năm gần đây, việc nhận diện và đo lường các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập nhằm tối ưu hóa các nguồn lực nông hộ là yêu cầu cấp thiết. Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Phân tích các nhân tố tác động đến thu nhập của hộ trên địa bàn xã Hiền Đa, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ" của tác giả Kiều Việt Hoàng (chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) được triển khai nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn trên.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu một số nhân tố tác động chủ yếu tới nguồn thu nhập của hộ nông dân xã Hiền Đa, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của hộ.
- Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu tình hình kinh tế – xã hội chung trên địa bàn xã Hiền Đa.
- Nghiên cứu các nguồn thu chính của các hộ nông dân trên địa bàn xã.
- Phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ trên địa bàn nghiên cứu.
- Mô hình hóa tác động của các nhân tố chính đến thu nhập từ kết quả điều tra thực tế.
- Đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập cho các nông hộ trên địa bàn xã.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng tình hình sản xuất và thu nhập của các hộ nông dân tại xã Hiền Đa diễn ra như thế nào?
- Hiệu quả trong việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất đạt mức độ nào?
- Nhân tố nào có ảnh hưởng lớn nhất tới thu nhập của các hộ nông dân trên địa bàn xã?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động tới nguồn thu nhập của hộ nông dân.
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Hiền Đa, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Phạm vi thời gian: Thời gian thực tập và thu thập dữ liệu từ ngày 10/02/2014 đến ngày 30/04/2014; chuỗi số liệu thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn 2011 – 2013.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm chuẩn mực về hộ và kinh tế hộ nông dân của các học giả và tổ chức quốc tế:
- Quan điểm của Terry McGee (1989) về hộ dựa trên tiêu chí đóng góp vào ngân quỹ chung thay vì chỉ xét điều kiện cùng chung sống dưới một mái nhà.
- Khái niệm hộ của Liên Hợp Quốc và Từ điển chuyên ngành kinh tế xác định hộ là đơn vị kinh tế vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có phân công lao động và ngân quỹ chung.
- Định nghĩa của Frank Ellis (1988) và Đào Thế Tuấn (1997) về hộ nông dân: các nông hộ khai thác tư liệu sinh hoạt từ đất đai, sử dụng chủ yếu lao động gia đình, tham gia từng phần vào thị trường với trình độ hoàn chỉnh chưa cao.
Tác giả vận dụng các chủ trương, chính sách quản lý nông nghiệp của Việt Nam qua các thời kỳ: Chỉ thị 208-CT/TW (1974), Nghị quyết 61/CP (1976), Chỉ thị 100-CT/TW (1981) về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, Nghị quyết 10-NQ/TW (1988) của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, Nghị định 66/HĐBT (1992), Nghị định 12/NĐ-CP (1993) và Luật Doanh nghiệp 1999. Bên cạnh đó, đề tài tham chiếu kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân từ Thái Lan (chính sách phát triển hạ tầng nông thôn, chế biến xuất khẩu, tín dụng ưu đãi), Đài Loan (chính sách cải cách ruộng đất 1951–1954, triết lý "lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp", mô hình "ly nông bất ly hương") và Trung Quốc (phát triển doanh nghiệp hương trấn, đầu tư thủy lợi và cơ sở hạ tầng).
Mô hình định lượng tham chiếu là hàm sản xuất Cobb – Douglas (do Knut Wicksell đề xuất, Charles Cobb và Paul Douglas phát triển):
$$Y = A \cdot L^\alpha \cdot K^\beta$$
Trong đó: $Y$ là tổng giá trị sản xuất; $L$ là lao động; $K$ là tiền vốn; $A$ là hệ số năng suất tổng hợp; $\alpha, \beta$ là độ co giãn của sản lượng theo lao động và vốn.
Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra chọn mẫu trực tiếp $n = 90$ hộ nông dân tại xã Hiền Đa bằng phiếu điều tra câu hỏi soạn sẵn kết hợp phỏng vấn sâu và quan sát thực địa.
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo tổng kết kinh tế – xã hội, thống kê đất đai, dân số qua các năm 2011 – 2013 do Ủy ban nhân dân xã Hiền Đa cung cấp, cùng tài liệu chuyên ngành liên quan.
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm bảng tính Microsoft Excel để thống kê mô tả, phân nhóm chỉ tiêu, so sánh cơ cấu chi phí – thu nhập và phân tích mô hình hồi quy.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 1 hệ thống hóa 6 đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân:
- Thống nhất giữa quyền sở hữu, quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất.
- Lao động và điều hành sản xuất gắn bó mật thiết, bị chi phối bởi quan hệ huyết thống.
- Quy mô nhỏ, dễ thích ứng và linh hoạt điều chỉnh quy mô theo biến động ngoại cảnh.
- Sự đan xen giữa quan hệ họ tộc, văn hóa và kinh tế tạo nên sự đồng thuận nội bộ.
- Mức độ tham gia thị trường chỉ mang tính từng phần.
- Sử dụng lao động và vốn gia đình là chủ yếu, chỉ thuê ngoài khi vượt quá năng lực sẵn có.
Tác giả phân loại nông hộ theo mục tiêu hoạt động (tự cấp tự túc hoặc sản xuất hàng hóa), theo tính chất ngành nghề (thuần nông, kiêm nông, buôn bán) và theo mức thu nhập. Để phục vụ khảo sát thực địa, tác giả phân chia 3 nhóm hộ theo thu nhập bình quân đầu người/tháng tại thời điểm khảo sát:
- Nhóm hộ thu nhập cao: trên 600.000 đồng/người/tháng.
- Nhóm hộ thu nhập trung bình (khá): từ 401.000 đến 600.000 đồng/người/tháng.
- Nhóm hộ thu nhập thấp: từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày khung phương pháp luận nghiên cứu, bao gồm thiết kế mẫu điều tra 90 hộ nông dân, quy trình phỏng vấn trực tiếp chủ hộ, phương pháp thu thập số liệu hành chính địa phương và hệ thống chỉ tiêu phân tích kinh tế hộ. Tác giả xác lập khung phân tích các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ gồm:
- Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết, môi trường sinh thái.
- Nguồn lực sản xuất nội tại: quy mô và chất lượng lao động, độ tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ, vốn đầu tư, tư liệu sản xuất, đất đai.
- Yếu tố kỹ thuật và thị trường: kỹ thuật canh tác, khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, hệ thống cơ sở hạ tầng (thủy lợi, giao thông), biến động giá cả và khả năng tiếp cận thị trường tiêu thụ.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày toàn bộ kết quả phân tích hiện trạng kinh tế – xã hội của xã Hiền Đa và dữ liệu khảo sát từ 90 hộ nông dân.
1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội xã Hiền Đa:
- Vị trí và địa hình: Xã trung du nằm ở phía đông nam huyện Cẩm Khê, cách trung tâm huyện 12 km. Độ dốc trung bình 3%. Đường Quốc lộ 32C chạy qua chia địa bàn thành hai vùng: vùng ngoài đê (được sông Hồng bồi đắp phù sa hàng năm, tập trung dân cư) và vùng trong đê (đất trũng thấp, chuyên canh lúa nước). Diện tích mặt nước sông ngòi đạt 130,81 ha (sông Hồng và ngòi Cỏ).
- Quỹ đất đai (2011 – 2013): Tổng diện tích tự nhiên không đổi là 288,46 ha. Năm 2013, đất nông nghiệp chiếm 97,45 ha (33,78%), đất phi nông nghiệp chiếm 170,31 ha (59,04%), đất chưa sử dụng là 20,70 ha (7,18%). Trong cơ cấu đất nông nghiệp, đất trồng cây hàng năm chiếm 76,16 ha (78,15%), đất trồng cây lâu năm 18,12 ha (18,59%), đất nuôi trồng thủy sản 3,17 ha (3,25%). Xã không có diện tích đất trang trại.
- Dân số và lao động: Năm 2013, toàn xã có 506 hộ, dân số có 782 nam và 891 nữ, tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên là 1,03%. Tổng số lao động là 866 người, chủ yếu là lao động nông nghiệp mang tính thời vụ, tỷ lệ qua đào tạo chuyên môn rất thấp.
- Kết quả kinh tế xã năm 2013: Tổng giá trị sản xuất toàn xã đạt 5.379 triệu đồng. Sản lượng lương thực cả năm đạt 701,5 tấn (vụ chiêm xuân lúa đạt 440 tấn trên diện tích 72 ha, ngô đạt 2,5 tấn trên diện tích 1,5 ha). Bình quân lương thực đạt 402 kg/người/năm.
2. Phân tích thực trạng các nhóm hộ điều tra ($n = 90$):
| Chỉ tiêu phân tích |
Đơn vị tính |
Nhóm thu nhập thấp |
Nhóm thu nhập trung bình |
Nhóm thu nhập cao |
| Số lượng hộ điều tra |
Hộ |
18 (hoặc 17 tùy bảng) |
7 (hoặc 8 tùy bảng) |
65 |
| Tỷ lệ cơ cấu mẫu |
% |
18,89% |
8,89% |
72,22% |
| Độ tuổi trung bình chủ hộ |
Tuổi |
61,00 |
52,00 |
49,00 |
| Số nhân khẩu bình quân |
Người/hộ |
3,33 |
4,29 |
4,15 |
| Lao động chính bình quân |
LĐ/hộ |
1,56 |
3,29 |
3,51 |
| Diện tích đất ở bình quân |
$\text{m}^2/\text{hộ}$ |
252,65 |
262,50 |
294,14 |
| Diện tích đất canh tác lúa |
Sào/hộ |
7,31 |
8,12 |
8,48 |
| Năng suất lúa bình quân |
Tạ/sào |
1,65 |
1,64 |
1,69 |
| Sản lượng lúa bình quân |
Tạ/hộ |
12,05 |
13,34 |
14,30 |
| Chi phí sản xuất lúa/sào/năm |
1.000 đ |
569,54 |
716,36 |
743,60 |
| Tỷ trọng chi phi nông nghiệp |
% |
0,00% |
15,57% |
35,06% |
- Trình độ học vấn của chủ hộ: Ở nhóm thu nhập thấp, có 11,76% mù chữ (2 chủ hộ), 41,18% cấp 1 và 47,06% cấp 2. Nhóm thu nhập trung bình có 25,00% cấp 1, 37,50% cấp 2 và 37,50% cấp 3. Ở nhóm thu nhập cao, tỷ lệ chủ hộ có trình độ cấp 3 chiếm 46,48%, cấp 2 chiếm 36,62% và trình độ Trung cấp chiếm 8,45% (chủ yếu là cán bộ, công chức nhà nước có nguồn lương ổn định).
- Cơ cấu chi phí và kết quả sản xuất:
- Trong trồng lúa, tất cả các nhóm hộ đều sử dụng giống Hương Thơm 1 (chi phí 50.000 đ/sào do được huyện trợ giá). Chênh lệch chi phí giữa các nhóm hộ nằm ở mức đầu tư phân vô cơ, phân hữu cơ và thuốc bảo vệ thực vật. Nhóm hộ thu nhập cao đầu tư 188,14 nghìn đồng phân vô cơ và 129,84 nghìn đồng phân hữu cơ cho 1 sào, cao hơn đáng kể so với nhóm hộ thu nhập thấp (83,08 nghìn đồng phân vô cơ và 67,10 nghìn đồng phân hữu cơ).
- Trong chăn nuôi, hoạt động chủ yếu là nuôi lợn thịt quy mô nhỏ nhằm tận dụng phụ phẩm trồng trọt; thức ăn chiếm trên 83% tổng chi phí chăn nuôi.
- Cơ cấu nguồn thu: Nhóm thu nhập thấp phụ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp (chăn nuôi 55,97%, trồng trọt 31,88%). Nhóm thu nhập trung bình có nguồn thu cân bằng hơn (chăn nuôi 36,66%, phi nông nghiệp 38,51%, trồng trọt 24,83%). Nhóm thu nhập cao có tỷ trọng thu nhập từ phi nông nghiệp (thương mại, dịch vụ, sửa chữa, tiền lương) chiếm vị trí áp đảo với 63,74% tổng thu nhập, trong khi chăn nuôi chiếm 24,70% và trồng trọt chỉ chiếm 11,56%.
- Mức thu nhập khảo sát: Thu nhập bình quân của các hộ khảo sát đạt 84.889,56 nghìn đồng/hộ/năm; mức thu nhập cao nhất đạt 224.080,00 nghìn đồng và thấp nhất là 11.400,00 nghìn đồng.
Chương 4: Các giải pháp
Chương 4 đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn, nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân trên địa bàn:
- Giải pháp vĩ mô và địa phương: Hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi nội đồng; đẩy mạnh công tác khuyến nông, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật; hỗ trợ người dân tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi; tổ chức đào tạo nghề phi nông nghiệp nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động trong thời gian nông nhàn.
- Giải pháp cấp nông hộ: Chủ động chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi; nâng cao mức đầu tư thâm canh hợp lý cho cây lúa; mở rộng quy mô chăn nuôi theo hướng hàng hóa thay vì tận dụng nhỏ lẻ; tích cực tham gia các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ phi nông nghiệp nhằm đa dạng hóa nguồn thu nhập gia đình.
Kết quả và đóng góp
Các kết quả chính dựa trên dữ liệu văn bản:
- Phản ánh trung thực thực trạng kinh tế nông hộ tại xã Hiền Đa năm 2013 với mức thu nhập bình quân 84,89 triệu đồng/hộ/năm, trong đó khoảng cách giữa hộ cao nhất (224,08 triệu đồng) và hộ thấp nhất (11,40 triệu đồng) chênh lệch gần 20 lần.
- Chứng minh bằng số liệu thực nghiệm mối tương quan thuận giữa thu nhập hộ với:
- Quy mô lao động chính: Nhóm hộ thu nhập cao có bình quân 3,51 lao động/hộ, nhóm thấp chỉ có 1,56 lao động/hộ.
- Trình độ học vấn và độ tuổi: Chủ hộ nhóm thu nhập cao có độ tuổi trung bình trẻ hơn (49 tuổi so với 61 tuổi ở nhóm thấp) và có tỷ lệ học vấn cấp 3 cùng trung cấp cao hơn (54,93% so với 0% ở nhóm thấp).
- Mức độ chuyển dịch sang phi nông nghiệp: Tỷ trọng thu nhập phi nông nghiệp đóng góp tới 63,74% ở nhóm hộ thu nhập cao, trong khi nhóm hộ nghèo thu nhập thấp hoàn toàn bằng 0%.
Giải pháp đề xuất của tác giả:
- Xác lập định hướng chuyển đổi mô hình kinh tế từ độc canh thuần nông sang phát triển kinh tế đa ngành, kết hợp nông nghiệp thâm canh với dịch vụ và ngành nghề nông thôn.
- Kiến nghị chính quyền xã và huyện Cẩm Khê tăng cường chính sách trợ giá giống, chuyển giao kỹ thuật phân bón và mở rộng kênh tín dụng sản xuất.
Đóng góp của khóa luận:
- Cung cấp bộ dữ liệu vi mô chi tiết từ 90 phiếu điều tra thực tế tại xã Hiền Đa, lượng hóa cụ thể cơ cấu chi phí sản xuất lúa, chăn nuôi lợn và tổng thu nhập theo từng nhóm hộ.
- Cung cấp cơ sở thực chứng giúp Ủy ban nhân dân xã Hiền Đa và các tổ chức đoàn thể địa phương định hình chính sách giảm nghèo và phát triển kinh tế nông thôn giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu chỉ tiến hành khảo sát trên phạm vi không gian hẹp (90 hộ tại một xã trung du Hiền Đa), cơ cấu mẫu có sự chênh lệch lớn giữa các nhóm (nhóm thu nhập cao chiếm tới 72,22% mẫu, trong khi nhóm trung bình chỉ chiếm 8,89%), chưa phản ánh hết tính đại diện cho các vùng sinh thái nông nghiệp khác của tỉnh Phú Thọ.
- Hướng mở rộng: Mở rộng phạm vi điều tra sang các xã lân cận trong huyện Cẩm Khê; thu thập chuỗi dữ liệu bảng qua nhiều năm liên tiếp; áp dụng mô hình kinh tế lượng đa biến (hồi quy OLS, mô hình phân tích hàm Cobb-Douglas hoàn chỉnh) để kiểm định sâu hơn mức độ đóng góp cận biên của từng yếu tố vốn, lao động, diện tích đất đai và học vấn tới thu nhập nông hộ.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tư liệu học thuật hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý kinh tế và Khuyến nông khi thực hiện các chuyên đề tốt nghiệp về kinh tế hộ và sinh kế nông thôn.
- Cán bộ quản lý kinh tế, cán bộ nông nghiệp xã Hiền Đa và huyện Cẩm Khê trong việc tham khảo số liệu cơ cấu chi phí sản xuất lúa (giống Hương Thơm 1, định mức phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) và cơ cấu thu nhập nông hộ phục vụ công tác xây dựng nông thôn mới.
- Các nhà nghiên cứu cần tài liệu tham khảo về phương pháp phân nhóm hộ theo thu nhập và thiết kế bảng hỏi khảo sát hộ nông thôn vùng trung du Bắc Bộ.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng tiêu chí nào để phân loại các nhóm hộ thu nhập tại xã Hiền Đa?
Tác giả căn cứ vào mức thu nhập bình quân đầu người/tháng tại thời điểm điều tra để chia làm 3 nhóm: nhóm thu nhập cao (trên 600.000 đồng/người/tháng), nhóm thu nhập trung bình (từ 401.000 đến 600.000 đồng/người/tháng), và nhóm thu nhập thấp (từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống).
2. Giống lúa nào được các hộ dân tại xã Hiền Đa gieo cấy phổ biến và mức chi phí giống ra sao?
Toàn bộ các nhóm hộ điều tra đều sử dụng giống lúa Hương Thơm 1. Do được Ủy ban nhân dân huyện hỗ trợ về giá giống, chi phí giống lúa bình quân giữa cả 3 nhóm hộ đều bằng nhau ở mức 50.000 đồng/sào/năm.
3. Sự khác biệt lớn nhất về cơ cấu thu nhập giữa nhóm hộ thu nhập cao và nhóm hộ thu nhập thấp là gì?
Nhóm hộ thu nhập thấp phụ thuộc 100% vào sản xuất nông nghiệp (chăn nuôi 55,97%, trồng trọt 31,88%, phi nông nghiệp 0%). Ngược lại, nhóm hộ thu nhập cao có nguồn thu chủ yếu đến từ các hoạt động phi nông nghiệp, chiếm tới 63,74% tổng thu nhập của hộ.
4. Đặc điểm về độ tuổi và số lượng lao động của các chủ hộ thu nhập thấp tại địa phương là gì?
Nhóm hộ thu nhập thấp có độ tuổi trung bình chủ hộ cao nhất (61 tuổi) và số lao động chính bình quân thấp nhất (1,56 lao động/hộ), dẫn đến khả năng lao động suy giảm, tỷ lệ phụ thuộc cao và khó tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới.
5. Cơ cấu sử dụng đất đai của xã Hiền Đa trong giai đoạn 2011 – 2013 có đặc điểm gì nổi bật?
Tổng diện tích tự nhiên giữ nguyên 288,46 ha. Năm 2013, đất phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất với 59,04% (170,31 ha), đất nông nghiệp chiếm 33,78% (97,45 ha) và đất chưa sử dụng chiếm 7,18% (20,70 ha). Đáng chú ý, địa phương hoàn toàn không có diện tích đất phát triển trang trại.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Kiều Việt Hoàng đã hoàn thành việc khảo sát và lượng hóa các nhân tố tác động đến thu nhập của hộ nông dân tại xã Hiền Đa, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ dựa trên mẫu điều tra 90 hộ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự chênh lệch thu nhập giữa các hộ nông dân chủ yếu bắt nguồn từ cơ cấu lao động, trình độ học vấn của chủ hộ, mức đầu tư thâm canh và đặc biệt là mức độ tham gia vào các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp. Các giải pháp do đề tài đề xuất tập trung vào chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, thâm canh nông nghiệp và hoàn thiện hạ tầng, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn bền vững tại địa phương.