Chương I. Những vấn đề lý luận về nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp và việc sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN. Nguồn vốn đầu tư của DN. Khái niệm và bản chất của nguồn vốn đầu tư.
Có thể nói nguồn vốn đầu tư là nguồn rất quan trọng không chỉ trong cả nền kinh tế quốc dân mà còn đối với hoạt động của các DN. Nhưng nguồn vốn này từ đâu mà có và xuất phát từ đâu và có vai trò như thế nào? Trong nền kinh tế quốc dân, để thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng và góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội thì chúng ta phải thực hiện tích lũy và tiết kiệm cả trên góc độ toàn bộ nền kinh tế vĩ mô cũng như là trong từng DN. Nó bao gồm các nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy nội bộ của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các DN và tiết kiệm của chính phủ hoặc là từ các nguồn vốn nước ngoài như kiều hối, quỹ hỗ trợ tín dụng của các ngân hàng thương mại quốc tế được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội, và các nguồn này tồn tại dưới dạng giá trị. Có thể có một thời điểm nào đó có một số cá nhân, DN có tích lũy nhưng không trực tiếp tham gia đầu tư.
Trong khi đó, có một số cá nhân, DN lại thực hiện đầu tư khi chưa hoặc tích lũy chưa đủ. Khi đó, thị trường vốn sẽ tham gia giải quyết vấn đề bằng việc điều tiết khoản vốn từ nguồn dư thừa hoặc tạm thời dư thừa sang người có nhu cầu đầu tư sử dụng. Ví dụ, DN có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn thực hiện một dự án đầu tư nào đó từ các DN khác, hộ gia đình hay các cá nhân – người dư thừa hoặc tạm thời dư thừa vốn. Như vậy có thể khẳng định rằng: nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích lũy được thể hiện dưới dạng giá trị được chuyển hóa thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội.
Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích lũy mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội. Điều này được cả kinh tế học cổ điển, kinh tế chính trị học Mác Lênin và các nhà kinh tế học hiện đại chứng minh. Đề cương Trước hết là trường phái kinh tế học cổ điển mà đại diện là nhà kinh tế học Adam Smith, trong tác phẩm “ Của cải của các dân tộc” đã khẳng định:“ Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn. Lao động tạo ra sản phẩm để tích lũy cho quá trình tiết kiệm.
Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”. Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệ giữa các khu vực của nền sản xuất xã hội, về các vấn đề có liên quan trực tiếp đến quá trình tích lũy, theo C.Mác ông đã phân chia nền kinh tế thành hai khu vực, khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất, khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng. Trong đó cơ cầu tổng giá trị của từng khu vực đó là : (c + v + m) trong đó c là phần tiêu hao vật chất, (v + m) là phần giá trị mới sáng tạo ra. Khi đó điều kiện để đảm bảo tái sản xuất mở rộng không ngừng thì xã hội phải đảm bảo rằng tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I không chỉ bồi hoàn tiêu dùng tiêu hao vật chất của toàn bộ nền kinh tế mà còn phải dư thừa để tăng quy mô tư liệu sản xuất cho nền kinh tế tức là: ( C + V + M) ( I) > C (I) + C (II) Và đối với khu vực II thì cũng cần đảm bảo rằng: toàn bộ giá trị của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị sản phẩm sản xuất của khu vực II tức là : (C + V +M) (II) < (V+ M) (I) + ( V + M ) (II) Như vậy theo C.Mác con đường về cơ bản quan trọng và lâu dài để tái sản xuất mở rộng đó là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và tiêu dùng hay nói cách khác nguồn lực cho đầu tư phát triển chỉ có thể được đáp ứng do sự gia tăng sản xuất và tích lũy của nền kinh tế.
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại được các nhà kinh tế học hiện đại chứng minh. Theo Keynes, đã chứng minh rằng : Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng. Đồng thời ông chỉ ra rằng tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng Tức là Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư Tiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùng Hay là Tiết kiệm = Đầu tư Đề cương Trong đó thu nhập chính là mức chênh lệch giữa doanh thu từ bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ và tổng chi phí. Nhưng toàn bộ sản phẩm sản xuất ra phải được bán cho người tiêu dùng hoặc cho các nhà sản xuất khác.
Mặt khác đầu tư hiện hành chính bằng phần tăng thêm năng lực sản xuất mới trong kỳ. Vì vậy chính phần dôi ra của tiêu dùng chính là bằng phần đầu tư của doanh nghiệp. Nhưng điều kiện cân bằng chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng, và phần tiết kiệm chính là phần tiết kiệm của toàn bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của cá nhân và tiết kiệm của chính phủ không nhất thiết là được tiến hành cùng bởi cùng một cá nhân hay cùng một doanh nghiệp. Có thể có những cá nhân thực hiện đầu tư khi chưa tích lũy đủ.
Khi đó thị trường vốn sẽ hình thành và tham gia giải quyết vấn đề bằng việc điều tiết khoản vốn từ nguồn dư thừa hoặc tạm thời dư hừa sang cho người có nhu cầu sử dụng. Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm không phải bao giờ cũng được thiết lập. Mức chênh lệch giữa đầu tư và tiết kiệm chính là tài khoản vãng lai. Phần tích lũy của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu tư tại nước sở tại, và tài khoản vãng lai thặng dư và khi đó sẽ xuất hiện dòng vốn chảy ra ngoài để thực hiện đầu tư, hoặc cho nước ngoài vay vốn để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế.
Và ngược lại, vốn tích lũy của nền kinh tế có thể nhỏ hơn nhu cầu đầu tư của nền kinh tế và tài khoản vãng lai bị thâm hụt, khi đó nền kinh tế có thể huy động được nguồn vốn từ nước ngoài. Khi đó thu hút đầu tư nước ngoài hay vay nợ nước ngoài có thể trở thành một trong những nguồn vốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế. Như vậy thông qua việc nghiên cứu các quan điểm của các trường phái kinh tế có thể thấy rằng thực chất của nguồn vốn đầu tư đó là phần tiết kiệm của nền kinh tế để thực hiện tái sản xuất mở rộng đáp ứng sự gia tăng sản xuất và tích lũy của nền kinh tế. Các nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp.
Nguồn vốn bên trong. Khi DN mới được thành lập thì nguồn vốn chủ sở hữu là vốn điều lệ do chủ DN, các nhà đầu tư góp vốn, được sử dụng để đầu tư mua sắm các loại tài sản của DN. Trong quá trình hoạt động nguồn vốn của chủ sở hữu được bổ sung từ kết quả hoạt động kinh doanh của DN. Các loại hình DN khác nhau sẽ có nguồn vốn chủ sở hữu khác nhau.
Đối với DN Nhà nước thì nguồn vốn ban đầu này chính là do nhà nước đầu tư. Với các công ty cổ phần thì đây là do các cổ đông đóng góp, mỗi cổ đông là chủ sở hữu của công ty và chịu Đề cương trách nhiệm hữu hạn trên số vốn mà mình đã đóng góp. Còn đối với công ty tư nhân thì chủ DN phải có đủ số vốn pháp định cần thiết để xin đăng kí thành lập công ty. Bên cạnh đó nguồn vốn nội bộ còn được bổ sung từ một số nguồn khác như lợi nhuận không chia, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự trữ tài chính, thặng dư vốn, thu nhập giữ lại, vốn khấu hao ….
Các công ty dùng phần lợi nhuận sau thuế không dùng để chia cổ tức cho các cổ đông mà giữ lại để thực hiện tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. * Ưu điểm: Nguồn vốn của chủ sở hữu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh của DN, nó tạo điều kiện thuận lợi cho chủ DN chủ động hoàn toàn trong sản xuất. Chủ DN có cơ sở để chủ động và kịp thời đưa ra các quyết sách quyết định trong kinh doanh để đạt được mục tiêu của mình mà không phải tìm kiếm và phụ thuộc vào nguồn vốn tài trợ. * Hạn chế: Tuy nhiên nguồn vốn này thường bị hạn chế về quy mô nên không đáp ứng được mọi nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh, mặt khác việc sử dụng nguồn vốn này không chịu sức ép về chi phí sử dụng vốn và có thể thiếu kiểm tra, giám sát, hoặc tư vấn của các chuyên gia, các tổ chức như trong sử dụng nguồn vốn đi vay, do đó có hiệu quả sử dụng vốn không cao hoặc có thể sẽ có những quyết định đầu tư không khôn ngoan.
Nguồn vốn bên ngoài. Vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại. Vốn tín dụng ngân hàng. Có thể nói rằng nguồn vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với bản thân các DN mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Sự hoạt động và phát triển của các công ty, các DN đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn tín dụng. Trong quá trình hoạt động, các DN thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho các dự án mở rộng hay đầu tư chiều sâu của DN.