Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Những vấn đề cơ bản về ngôn ngữ 1. Khái niệm ngôn ngữ Theo quan điểm của Marx - Lenin thì “Ngôn ngữ là sản phẩm của lao động và là nhân tố đã cùng với tư duy tách con người ra khỏi thế giới động vật. Ngôn ngữ xuất hiện trước hết do nhu cầu giao tiếp của xã hội trong cũng như ngoài hoạt động sản xuất".
Chính chỗ này là ranh giới của sự khác biệt giữa ngôn ngữ loài người với ngôn ngữ của các loài động vật có khả năng tổ chức cao như loài ong, loài kiến,… Trong các hiện tượng xã hội, chủ nghĩa Marx phân biệt cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Với ngôn ngữ, nó không thuộc kiến trúc thượng tầng cũng chẳng nằm ở cơ sở hạ tầng. Tất cả các hiện tượng xã hội khác khi quan niệm thay đổi, khi kiến trúc thượng tầng thay đổi thì chúng cũng thay đổi nhưng với ngôn ngữ thì không vì thế mà thay đổi. Chính vì thế ngôn ngữ không phụ thuộc vào kiến trúc thượng tầng.
Các hiện tượng xã hội khác đều mang tính giai cấp nhưng với ngôn ngữ thì không, vì ngôn ngữ phục cho lợi ích của mọi giai cấp. Theo Marx “Ngôn ngữ cũng mang tính giai cấp vì mỗi tầng lớp khác nhau lại có cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau”. Thực ra việc sử dụng ngôn ngữ là tùy thuộc vào ý thức cá nhân và môi trường giao tiếp cho nên không thể coi đó là tính giai cấp của ngôn ngữ. Ngôn ngữ của loài người khác với các hệ thống giao tiếp (hiểu theo nghĩa thông báo) của các loài vật trước hết ở chỗ nó là công cụ để diễn đạt kết quả của tư duy và phục vụ cho tư duy tự do.
Trong các hệ thống giao tiếp khác ở loài vật bị gắn chặt với kích thích và phản xạ từ thế giới bên ngoài, bị gắn liền với cái đang xảy ra khi con vật phát tín hiệu thì ngôn ngữ của loài người thoát khỏi tất e 8 cả những ràng buộc đó. Ngôn ngữ của con người chẳng những biểu hiện cái đang xảy ra mà còn thể hiện cái đã xảy ra và cả cái chưa hề có, cả những kết quả xây dựng bằng trí tuệ, bởi tư duy, chỉ tồn tại trong tư duy. Ngôn ngữ được ra đời từ lao động, trở thành phương tiện để giao tiếp, công cụ để tư duy, ngôn ngữ đã gắn bó chặt chẽ với xã hội loài người. Tuy nhiên không đơn thuần chỉ mang bản chất xã hội, ngôn ngữ còn là một hiện tượng xã hội đặc biệt.
Ngoài ra, nếu các hiện tượng xã hội khác phát triển theo quy luật đột biến, biến đổi theo các cuộc cách mạng thì ngôn ngữ cũng phát triển nhưng là phát triển theo quy luật kế thừa, từ từ và không đột biến. Vậy ngôn ngữ là gì? Trong “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” đã định nghĩa về ngôn ngữ như sau: “Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu phát sinh tự nhiên, phát triển có quy luật và mang đặc trưng xã hội”. Có thể nói định nghĩa này đã thể hiện rất rõ những đặc trưng của ngôn ngữ. Chức năng của ngôn ngữ Ngôn ngữ có rất nhiều chức năng, nhưng có hai chức năng cơ bản của ngôn ngữ là làm phương tiện giao tiếp và thể hiện tư duy: - Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người.
Chính nhờ ngôn ngữ mà con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt, ngôn ngữ có thể diễn đạt và làm cho người khác hiểu được tư tưởng, tình cảm, trạng thái và nguyện vọng của mình. Có hiểu biết lẫn nhau, con người mới có thể đồng tâm hiệp lực chinh phục thiên nhiên, chinh phục xã hội, làm cho xã hội ngày càng phát triển. Ngôn ngữ không có tính giai cấp, nhưng lại là công cụ đấu tranh giai cấp. Các giai cấp khác nhau cùng sử dụng ngôn ngữ để đấu tranh với nhau.
Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương dùng ngôn ngữ dân tộc làm vũ khí tuyên truyền, giáo dục tư tưởng cách mạng, tập hợp quần chúng vào mặt trận chung thống nhất để đấu tranh với kẻ thù. Ngôn ngữ dân tộc đã sử dụng rộng rãi để tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách của e 9 Đảng và Nhà nước, để động viên quần chúng tham gia đấu tranh cách mạng. - Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy. Chức năng của ngôn ngữ gắn liền với chức năng thể hiện tư duy của nó, bởi việc giao tiếp bằng ngôn ngữ chỉ có thể giúp con người ta trao đổi tư tưởng, tình cảm với nhau, do đó hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau tổ chức công tác chung trên mọi lĩnh vực hoạt động nếu bản thân ngôn ngữ chứa đựng những kinh nghiệm, những tư tưởng và tình cảm của con người.
Nếu ngôn ngữ chỉ là những tổ hợp âm thanh đơn thuần thì nó không thể trở thành phương tiện giao tiếp. Tuy nhiên, không thể đồng nhất chức năng giao tiếp với chức năng thể hiện tư duy của ngôn ngữ, hoặc là cho chức năng thể hiện tư duy chỉ là một chức năng phụ thuộc vào chức năng giao tiếp. Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, Marx và Enggels đã viết chức năng thể hiện tư duy của ngôn ngữ: "Ngay từ đầu, đã có một rủi ro đè nặng lên "tinh thần" đó là sự rủi ro bị một vật chất làm "hoen ố", và vật chất đó thể hiện ở đây dưới hình thức những lớp không khí chuyển động, những thanh âm, tóm lại là dưới hình thức ngôn ngữ. Ngôn ngữ cũng cổ xưa như ý thức vậy, - ngôn ngữ là ý thức thực tại, thực tiễn".
Chủ nghĩa Marx đã thể hiện theo nghĩa rộng của danh từ, tức là sự phản ánh tồn tại nói chung. Ý thức bao gồm cả tình cảm lẫn ý chí của con người, nhưng bộ phận hợp thành chủ yếu của ý thức là tư duy. Những vấn đề cơ bản về ngôn ngữ báo chí 1. Khái niệm ngôn ngữ báo chí Để chuyển tải thông tin đến với con người, có thể nói báo chí là phương tiện hữu hiệu để thực hiện nhiệm vụ này.
Vì vậy, báo chí là phương tiện thông tin đại chúng quan trọng và cần thiết trong đời sống xã hội. Hiện nay, có nhiều loại hình báo chí đang là xu hướng phát triển mang tính khách quan, đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng. Tuy nhiên, mỗi loại hình báo chí có những ưu điểm riêng của nó. e 10 Báo chí là tên gọi chung của các loại hình, gồm có: Báo in, Báo mạng điện tử, Báo truyền hình, Phát thanh, Báo nói.
Trong đó loại hình Báo in là loại hình được ra đời sớm nhất. Báo in truyền thống bao gồm nhiều thể loại (tin tức, tường thuật, phóng sự, phỏng vấn, trao đổi, đối thoại.) mỗi thể loại lại có những yêu cầu ngôn ngữ riêng, phù hợp với đặc điểm truyền thông của thể loại. Do vậy, ngôn ngữ báo chí được hiểu như là một tổng thể các thể loại ngôn ngữ. Khi nói đến ngôn ngữ báo chí là chúng ta đi vào một phong cách ngôn ngữ cụ thể, nghĩa là đã đưa ngôn ngữ vào hoạt động hành chức của nó.
Để đạt được mục đích tác động đến độc giả, những người làm công tác báo chí phải có sự lựa chọn các phương tiện phong phú, đa dạng của ngôn ngữ để diễn đạt, truyền đạt thông tin. Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ đặc trưng của các quá trình chuyển tải thông tin báo chí. Sự đa dạng của thể loại dẫn tới sự đa dạng của ngôn ngữ báo chí. Mặt khác, khái niệm ngôn ngữ báo chí được xác lập chủ yếu trong sự khác biệt với ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ đời sống tự nhiên.
Trong tương quan so sánh đó, nếu như đặc trưng của ngôn ngữ văn học là tính nghệ thuật và hiệu quả thẩm mỹ thì đặc trưng của ngôn ngữ báo chí là tính chính xác, hàm xúc, khách quan và hiệu quả truyền thông tối ưu, tức là nhằm chuyển tải trọn vẹn và nhanh chóng thông tin tới người nhận (theo Từ điển Thuật ngữ báo chí - truyền thông - Phạm Thành Hưng). Nguyễn Đức Dân đã khẳng định: “Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ sự kiện, thứ ngôn ngữ khách quan về những hoạt động, những gì đang xảy ra đúng như hiện thực khách quan, không thêm thắt những nhận xét, bình luận chủ quan của nhà báo” [9;30]. Vậy ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ được người viết lựa chọn để thể hiện nội dung bài báo, ngôn ngữ đó phải đảm bảo chức năng thông tin và chức e 11 năng tác động. Đặc điểm ngôn ngữ Báo chí Muốn có một bài báo hay, bên cạnh sự cập nhật, sự chính xác, sự hấp dẫn của các sự kiện, các tin tức thì vai trò của phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ cũng góp phần mang lại hiệu quả to lớn.
Có nhiều quan điểm khác nhau về những đặc điểm của ngôn ngữ báo chí. Theo tác giả Nguyễn Đức Dân trong cuốn: “Ngôn ngữ báo chí - những vấn đề cơ bản” thì ngôn ngữ báo chí có những đặc điểm sau: - Ngôn ngữ báo chí phải đảm bảo tính chính xác, hấp dẫn: tính chính xác và hấp dẫn tạo nên uy tín cho tờ báo. Sự cạnh tranh trong thông tin tới độc giả của báo chí càng ngày càng gay gắt, vì thế tính chính xác, hấp dẫn là cần thiết. Nội dung thông tin phong phú, đa dạng nhưng độc giả lại không có nhiều thời gian và cũng không muốn mất nhiều thời gian chỉ để nắm bắt lấy một tin tức nào đó.
Vì thế, tính hấp dẫn của ngôn ngữ báo chí phải đi đôi với sự ngắn gọn để có thể lôi cuốn, thu hút được độc giả cũng như thực hiện mục đích tác động của mình. - Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ sự kiện: ngôn ngữ sự kiện là ngôn ngữ bám sát sự kiện có thật và nguyên dạng để phản ánh. Đây là đặc điểm loại hình quan trọng nhất của ngôn ngữ báo chí, vì thật ra tin tức trong báo chí chính là sự kiện diễn ra hằng ngày được nói đến. Từ đó, đòi hỏi nhà báo không được bịa ra hay tưởng tượng sự thật và phải để sự thật nguyên vẹn chứ không được thêm bớt tô vẽ.
Hơn nữa, sự kiện xảy ra trong đời sống hằng ngày vô cùng phong phú và luôn ở thế vận động, độc giả có nhu cầu nắm bắt sự kiện một cách nhanh nhất, chính xác nhất và càng biết được nhiều sự kiện càng tốt.