mở đầu cho quá trình văn hóa Việt Nam tiếp xúc, giao lưu, tiếp nhận văn hóa Trung Hoa. Nhưng có một điều đáng nói ở đây là tuy tiếp xúc trực tiếp và thường xuyên với Trung Quốc, nhưng ở giai đoạn này, Việt Nam tiếp nhận văn hóa Trung Hoa chưa nhiều. Nổi bật ở giai đoạn này là Phật giáo được truyền vào Việt Nam. Như chúng ta đã biết, Phật giáo vào Việt Nam theo hai con đường: một là trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam; hai là từ Ấn Độ, sau đó qua con đường Trung Quốc, được truyền bá vào Việt Nam.
Trong hai con đường đó, con đường chủ yếu là từ Ấn Độ qua Trung Quốc rồi mới vào Việt Nam. Cùng với Phật giáo, Nho giáo cũng được truyền bá vào Việt Nam, tuy cũng có những ảnh hưởng nhất định, nhưng chưa phải là tôn giáo chính thức ở Việt Nam, không ăn sâu bén rễ vào làng xã Việt Nam. Cùng với sự chống Bắc thuộc quyết liệt về mặt chính trị, nét chủ đạo của giai đoạn này là xu hướng chống Hán hóa về mặt văn hóa và Việt Nam hóa các ảnh hưởng của Trung Quốc. * Giai đoạn 2 (Giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn tiếp xúc gián tiếp): Sau thế kỷ X, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập.
Nét nổi bật của giai đoạn này là tiếng Hán không còn có những ảnh hưởng một cách trực tiếp với vai trò quyết định như trước nữa và người Việt đã chủ động tiếp thu tinh hoa của văn hoá Hán. Nếu như giai đoạn một là giai đoạn tiếp xúc trực tiếp với tiếng Hán thì giai đoạn hai là giai đoạn tiếp xúc gián tiếp thông qua thư tịch (tw điển, vận thư, vận đồ.v) và sự tiếp xúc trực tiếp lẻ tẻ qua các cuộc xâm lược của đội quân phong kiến phương Bắc. Lịch sử đã cho biết dưới đời Lý, Trần và cuối đời Hậu Lê vẫn có những đợt xâm chiếm của đội quân phương Bắc. Chúng không những xâm lược bờ cõi mà còn ở lại nước ta và thiết lập một bộ máy thống tri cực kỳ tàn bạo.
Giai đoạn này, với địa vị là một quốc gia độc lập, người Việt đã chủ động tiếp thu những tinh hoa văn hóa, văn minh Trung Quốc trong đó có chữ Hán. Phật giáo giai đoạn này, rất phát triển mà đỉnh cao là thời đại Lý, Trần. Phật giáo đã trở thành quốc giáo. Việc truyền bá Phật giáo và kinh Phật đã thúc đẩy nhu cầu học chữ Hán, việc 12 học chữ Hán đã trở thành một nhu cầu cấp thiết ở giai đoạn này.
Lịch sử của Trung Quốc và Việt Nam thường nhắc đến vai trò của Sĩ Nhiếp và Nhâm Diên (cuối Đông Hán), Tích Quang thời Tây Hán trong việc truyền bá chữ Hán ở Việt Nam. Có thể nói phổ biến chữ Hán tức là phổ biến Nho giáo. Chữ Hán trước đây được gọi là chữ Nho vì lý do đó. Ngoài ra việc phổ biến chữ Hán còn gắn liền với việc phổ biến Phật giáo, Đạo giáo.
Theo nhiều chứng cứ đáng tin cậy, người Việt cổ trong mười thế kỷ đầu sau Công nguyên học chữ Hán chủ yếu là đọc kinh Phật. Như vậy, sự phổ biến của chữ Hán đưa đến sự truyền bá Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo. Nhưng ngược lại, sự truyền bá Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo chính là một nhân tố thúc đẩy làm cho chữ Hán ngày càng phổ biến sâu rộng ở Giao Châu. Có thể nói vào thời kỳ này, nền văn hóa Hán nói chung và văn tự Hán nói riêng đã có một ảnh hưởng nhất định trên địa bàn Việt Nam, đặc biệt là những nơi trung tâm của chính quyền đô hộ.
Ở thời kỳ này, giai cấp phong kiến Việt Nam đã xuất hiện một tầng lớp khá đông đảo am hiểu Hán học, thông qua Hán học nắm được cả Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo. Theo nghiên cứu của các nhà sử học, vào đời nhà Lý, Nho giáo đã chính thức du nhập vào Việt Nam, với những mốc là: năm 1070 Văn Miếu được xây dựng thờ Khổng Tử, năm 1076 khoa thi Nho học đầu tiên được mở ra ở Việt Nam, năm 1076 lập trường Quốc Tử Giám [20, tr. Như vậy, nhu cầu học chữ Hán đã trở nên thiết thực hơn trước, để chủ động đào tạo nhân tài cho đất nước theo con đường Hán học. Việc sử dụng chữ Hán rộng rãi ở tất cả các lĩnh vực hành chính và đời sống xã hội.
Đến thời Lê, Nho giáo đã đạt đến độ thịnh vượng nhất. Đây chính là một trong những lực lượng sau khi giành được độc lập đã ra sức bảo vệ, duy trì những gi đã tiếp thu được trước đó về mặt văn hóa, nhất là về mặt ngôn ngữ văn tự, góp phần đắc lực trong việc củng cố, tuyên truyền cho vai trò của Văn ngôn chữ Hán. Dưới sự ủng hộ của tầng lớp thống trị, tầng lớp trí thức Việt Nam, chữ Hán được dùng rộng rãi ở Việt Nam cho đến tận đầu thế kỷ XX. (2) Các tình huống tiếp xúc: Vấn đề tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ Hán và Việt là một vấn đề hết sức phức tạp.
Sự tiếp xúc của tiếng Việt với tiếng Hán là một quá trình bao gồm nhiều khả năng, nhiều tình huống, mỗi tình huống đưa lại một hậu quả riêng. Tất nhiên, ở đây không phải là sự tiếp xúc một chiều, không phải bao giờ cũng là sự tiếp xúc ảnh hưởng của tiếng Hán đối với tiếng Việt, mà trong sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ bao giờ ảnh hưởng cũng xẩy ra ở cả hai chiều, từ tiếng Hán sang tiếng Việt và ngược lại. Có khi chiều ảnh hưởng chỉ đi theo một đường thẳng đơn giản, theo diễn 13 tiến đơn tuyến, nhưng cũng có khi ảnh hưởng lại đi theo đường song tuyến hai chiều từ tiếng Hán sang tiếng Việt, rồi từ tiếng Việt sang tiếng Hán. Tất nhiên, trong thực tế, sự ảnh hưởng không thể là bình đẳng, sẽ có chiều mạnh và chiều yếu.
Vì vậy, về đại thể có thể kết luận về các khả năng tiếp xúc Hán và Việt: - _ Trong mối quan hệ giữa hai ngôn ngữ Hán và Việt, chiều ảnh hưởng đơn tuyến từ tiếng Hán sang tiếng Việt là chiều hướng đã lưu lại dấu ấn rõ rệt. - _ Trong các kha năng khác nhau ảnh hưởng khác nhau thì con đường đi thang từ tiếng Hán sang tiếng Việt là khả năng chủ đạo. (3) Kết quả tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt: Mỗi giai đoạn tiếp xúc sẽ dẫn đến các hệ quả khác nhau, sau đây là những kết quả tiếp xúc của từng giai đoạn đó: Giai đoạn 1: Trong giai đoạn này văn hoá Trung Quốc cũng đã có những ảnh hưởng nhất định tới Việt Nam, như văn hóa, phong tục, lối sống và ngôn ngữ. Văn hóa Trung Hoa du nhập vào Việt Nam, chữ Hán được dùng làm văn tự nhà nước, lưu lại ở Việt Nam một khối lượng văn bản Hán văn mang dấu ấn của văn hóa văn minh Trung Hoa.
Giai đoạn 2: Sự phát triển mạnh mẽ của Nho giáo cùng với việc các nhà nho đi tiên phong trong việc truyền bá văn học Hán đã khiến cho chữ Hán ngày càng thâm nhập mạnh mẽ vào Việt Nam. Nhưng Hán văn ở Việt Nam giai đoạn này, vì lý do chính tri (trở thành một quốc gia độc lập) đã hoàn toàn cách ly khỏi Trung Quốc. Chữ Hán được nhà nước phong kiến Việt Nam sử dụng làm văn tự quốc gia có cú pháp là Hán văn cổ (Văn ngôn) về cơ bản không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của tiếng Hán ở Trung Quốc. Tất nhiên cũng không thể nói rằng Hán văn ở Việt Nam hoàn toàn không bị một ảnh hưởng nào bởi những thay đổi của Hán văn Trung Quốc.
Hán văn ở Việt Nam Như phần trên đã trình bày, trong quá trình tiếp xúc Hán và Việt, chữ Hán đã được Việt Nam sử dung làm ngôn ngữ hành chính suốt 10 thế ky độc lập. Chính vi vậy, trước khi trình bày Hán văn ở Việt Nam chúng tôi sẽ trình bày sơ qua về tiếng Hán, làm rõ những khái niệm đặc biệt sản sinh trong quá trình phát triển của tiếng Hán: khái niệm Văn ngôn, Bạch thoại và mối quan hệ giữa Văn ngôn và Bạch thoại. Lam rõ những khái niệm này, giúp cho chúng ta nhận diện được hình thái ngôn ngữ 14 viết của các văn bản Hán văn ở Việt Nam từ đầu công nguyên đến đầu thế ky XX, cũng như các văn bản Hán văn của Đông Kinh Nghĩa Thục. Tiếng Hán (1) Tiến trình phát triển của tiếng Hán: Tiếng Hán là một trong những ngôn ngữ có lich sử phát triển lâu đời nhất trên thế giới.
Trong cuốn PB aa EK Be hé šR Trung Quốc ngôn ngữ học hiện trạng dữ triển vọng của Hứa Gia Lộ chủ biên đã phân chia tiến trình phát triển của tiếng Hán thành các giai đoạn, như sau [69, tr.139]: Giai đoạn Ngôn ngữ viết Thời gian Hán ngữ | Thượng cổ | Văn ngôn Tiên Tân A cổ đại Trungcổ | Văn ngôn Đông Hán đến Tùy B Hán ngữ trung đại | Văn ngôn và Bạch | Thời kỳ Hán Đường thoại C Hán ngữ can dai Văn ngôn và Bạch | Van Đường ngũ đại đến thoại Tống, Nguyên, Minh D Hán ngữ hiện đại | Văn ngôn và Bạch | Thanh trở đi thoại Bạch thoại Từ 1956 đến nay (2) Khái niệm Văn ngôn: Trong cuốn từ điển Hán ngữ hiện đại được Văn ngôn định nghĩa: “là một loại ngôn ngữ sách vở lấy Hán ngữ cổ đại làm cơ sở, rất thông dụng trước cuộc vận động Ngũ Tứ (ngày 4 tháng 5 năm 1919)” [76, tr. Cách dùng từ, câu trong Văn ngôn về cơ bản đều lấy những tác phẩm thời Xuân Thu Chiến Quốc làm cơ sở. Cho nên có thể nói, Văn ngôn là một loại ngôn ngữ sách vở lấy những tác phẩm thời Tiên Tần làm qui phạm và cũng bao gồm cả thứ ngôn ngữ trong các tác phẩm “phỏng cổ” của các tác giả lịch đại sau này. Văn ngôn thời kỳ đầu được xây dựng trên nên tảng khẩu ngữ (khẩu ngữ thời Tiên Tần), nó thống nhất với khẩu ngữ, khi đó “văn” và “ngôn” là thống nhất với nhau.
Các tác phẩm Văn ngôn đều lấy tiếng Quan Thoại (lúc đó gọi là Nhấ ngôn) làm cơ sở. Thi và Thư là những tác phẩm sử dụng Nhd ngôn, là mẫu mực cho cách viết của người đương thời. Người đi 15 học, khi viết một văn bản, phải viết theo khuôn mẫu và cách nói có trong sách vở. Cách tạo văn ban của họ giống như việc điền từ.
Hệ quả của cách viết này là sự khác xa giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Vào cuối thời Tiên Tần, Văn ngôn đã không ngừng phát triển và ngày càng khác xa với khẩu ngữ.