CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC LAO ĐỘNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1.1 Lao động trong các khu công nghiệp 1.1 Các khái niệm về lao động Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu con người. Thực chất là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người. Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế.
Trong phát triển kinh tế, quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động để đưa các tư liệu lao động vào sản xuất để tạo ra sản phẩm, của cải vật chất cho xã hội. Nguồn lao động và lực lượng lao động là những khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc xác định và tính toán cân đổi lao động – việc làm trong xã hội. Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau giữa các quốc gia, thậm chí khác nhau qua các thời kỳ trong cùng một quốc gia, tùy thuộc trình độ phát triển của nền kinh tế.
Đa số các nước quy định cận dưới (tuổi tối thiểu) của độ tuổi lao động là 15 tuổi, còn cận trên (tuổi tối đa) có sự khác nhau (60 tuổi, hoặc 65 tuổi…). Ở nước ta, theo quy định của Luật Lao động (1994), độ tuổi lao động đối với nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi và nữ là từ 15 tuổi đến 55 tuổi. Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt biểu hiện là số lượng và chất lượng. Xét về mặt số lượng, nguồn lao động bao gồm: - Bộ phân dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm.
3 - Và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định). Chất lượng của nguồn lao động về cơ bản được đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khoẻ (thể lực) của người lao động. Lực lượng lao động theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm. Ở nước ta hiện nay, lực lượng lao động được xác định là bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp.
Lực lượng lao động theo quan niệm như trên là đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế và nó phản ánh khả năng thực tế về cung ứng lao động của xã hội.2 Khu công nghiệp Thuật ngữ Khu Công nghiệp (KCN) xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, là một mô hình phát triển kinh tế phổ biến đã được hình thành và phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở các nước phát triển quan niệm KCN như một thành phố công nghiệp, vì thực tế KCN là một cộng đồng tự túc và độc lập. Ngoài việc cung cấp cơ sở hạ tầng, các tiện nghi, tiện ích công cộng hoàn chỉnh và xử lý chất thải, KCN còn bao gồm khu thương mại, dịch vụ ngân hàng, trường học, bệnh viện, các khu vui chơi giải trí, nhà ở công nhân. Ở Việt Nam, khái niệm về KCN đầu tiên được thể hiện tại Nghị định 192/CP ngày 15/12/1994 của Chính Phủ về quy chế KCN.
Theo đó " KCN là khu vực công nghiệp tập trung do Chính phủ thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống" Đến năm 1997, Chính phủ ban hành Nghị định 36/ CP ngày 24/4/1997 về Quy chế hoạt động của các KCN thay thế Nghị định 192/CP ngày 15/12/1994 thì khái niệm KCN được hiểu một cách đầy đủ hơn: "KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định,, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ Quyết định thành lập ". Đến năm 2005, Luật Đầu tư ra đời KCN được hiểu 4 trên phương diện một văn bản quy phạm pháp luật cao nhất: “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính Phủ“ Trải qua nhiều lần thay đổi định nghĩa về KCN, đến nay KCN được định nghĩa một cách đầy đủ nhất tại Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 của Chính phủ về việc quy định KCN. "KCN là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định" 1.2 Phân loại và đặc điểm 1.1 Phân loại lao động Lao động trong các doanh nghiệp thường được phân loại theo nhiều cách khác nhau tùy từng mục đích nghiên cứu cụ thể: Căn cứ vào tính chất công việc mà người lao động đảm nhận, lao động được chia thành 2 loại: lao động trực tiếp (LĐTT) và lao động gián tiếp (LĐGT) - LĐTT gồm những người trực tiếp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ nhất định. Theo nội dung công việc mà người lao động thực hiện, loại lao động trực tiếp được chia thành: Lao động sản xuất kinh doanh chính, lao động sản xuất kinh doanh phụ trợ, lao động của các hoạt động khác.
Theo năng lực và trình độ chuyên môn, LĐTT được phân thành các loại: Lao động tay nghề cao: Gồm những người đã qua đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong công việc thực tế, có khả năng đảm nhận các công việc phức tạp đòi hỏi trình độ cao. Lao động có tay nghề trung bình: Gồm những người đã qua đào tạo chuyên môn, nhưng thời gian công tác thực tế chưa nhiều hoặc những người chưa được đào tạo qua trường lớp chuyên môn nhưng có thời gian làm việc thực tế tương đối lâu, được trưởng thành do học hỏi từ thực tế. - LĐGT gồm những người chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh. + Theo nội dung công việc và chuyên môn, loại lao động này chia thành: Nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính.
+ Theo năng lực và trình độ chuyên môn, LĐGT được phân loại thành: 5 Chuyên viên chính: Là những người có trình độ từ đại học trở lên, có trình độ chuyên môn cao, có khả năng giải quyết công việc phức tạp. Chuyên viên: Là những người lao động đã tốt nghiệp đại học, trên đại học, có thời gian công tác tương đối lâu, trình độ chuyên môn tương đối cao. Cán sự: Gồm những người mới tốt nghiệp đại học, có thời gian công tác thực tế chưa nhiều. Nhân viên: Là những LĐGT với trình độ chuyên môn thấp, có thể đã qua đào tạo các trường lớp chuyên môn nghiệp vụ hoặc chuaq qua đào tạo.
Căn cứ vào mục đích sử dụng và thời gian sử dụng, lao động được chia thành 2 loại: - Lao động thường xuyên: là lực lượng lao động chủ yếu trong doanh nghiệp bao gồm những người được tuyển dụng chính thức và làm những công việc lâu dài thuộc chức năng và nhiệm vụ của doanh nghiệp. - Lao động tạm thời: là những người làm việc theo các hợp đổng tạm tuyển ngắn hạn để thực hiện công tác tạm thời, theo thời vụ. Ngoài ra, người ta còn tiến hành phân loại lao động theo một số tiêu thức khác như: nghề nghiệp, giới tính, tuổi đời, thâm niên nghề, trình độ văn hóa.1 Đặc điểm cơ bản của lao động * Số lượng lao động Số lượng lao động được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng lao động. Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số.
Xét trong phạm vi một tổ chức thì số lượng lao động là tổng số người được tổ chức thuê mướn, được trả công và được ghi vào danh sách nhân sự của tổ chức. Theo quy định của bộ luật Lao động Việt Nam, xét theo phạm vi quốc gia thì lực lượng lao động hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động và đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. * Chất lượng lao động Chất lượng lao động là trạng thái nhất định trong tổ chức, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của người lao động. Chất lượng của 6 lao động được biểu hiện thông qua một số yếu tố chủ yếu như trạng thái sức khỏe, trình đồ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động.
- Thể lực lao động Thể lực lao động là các yếu tố như chiều cao, cân nặng, sức khỏe. của người lao động, là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng lao động. Các yếu tố này phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện như: mức sống, thu nhập, nghỉ ngơi, chăm sóc y tế và các dịch vụ khác. - Trình độ học vấn của lao động Chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất lượng lao động là trình độ văn hóa nói chung và trình độ chuyên môn nghiệp vụ nói riêng.
Trình độ văn hóa là nền tảng cho việc tiếp thu các kiến thức khoa học kỹ thuật, đào tọa và tái đào tạo nghề nghiệp. Công tác giáo dục và đào tạo đóng vai trò quyết định trong việc năng cao trình độ dân trí và trình độ học vấn cho người lao động. Giáo dục và đào tạo phải theo kịp và phù hợp với thực tế phát triển của nền kinh tế. Đầu tư cho đào tạo là đầu tư trực tiếp, cơ bản và lâu dài vì sự phồn vinh của đất nước.