phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục kèm theo thì đề án bao gồm 3 phần chính nhƣ sau: Phần 1: Cơ sở xây dựng đề án quản lý nhà nƣớc đối với lao động tại các khu công nghiệp địa bàn cấp tỉnh Phần 2: Nội dung đề án quản lý nhà nƣớc đối với lao động làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Phần 3: Đề xuất, kiến nghị 6 Phần 1. CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ 1. Bản chất và vai trò của lao động làm việc tại các khu công nghiệp 1.1 Khái niệm, đặc điểm lao động làm việc tại các khu công nghiệp Khái niệm lao động làm việc tại các khu công nghiệp Lao động làm việc tại các khu công nghiệp là những cá nhân tham gia vào quá trình sản xuất, vận hành và quản lý các hoạt động công nghiệp tại các khu vực đƣợc quy hoạch chuyên biệt, thƣờng là những khu vực đƣợc phát triển tập trung với mục đích thúc đẩy sự phát triển công nghiệp.
Theo Trần Kim Dung (2020), “lao động trong khu công nghiệp chủ yếu bao gồm hai nhóm chính: lao động phổ thông, chưa qua đào tạo chuyên sâu và lao động có tay nghề, được đào tạo để vận hành các máy móc và công nghệ hiện đại”. Những ngƣời lao động này không chỉ đóng góp vào quy trình sản xuất mà còn đảm nhiệm các vị trí nhƣ bảo trì, quản lý chất lƣợng và điều hành sản xuất trong các nhà máy. Nguyễn Vân Điềm (2019) chỉ ra rằng “phần lớn lao động tại các khu công nghiệp thuộc nhóm lao động phổ thông, có trình độ học vấn thấp và chưa qua đào tạo bài bản”. Tuy nhiên, các doanh nghiệp tại khu công nghiệp thƣờng cung cấp các khóa đào tạo ngắn hạn để nâng cao kỹ năng cho ngƣời lao động, nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất.
Mặt khác, nhóm lao động có tay nghề cao đóng vai trò quan trọng trong việc vận hành các dây chuyền sản xuất hiện đại, quản lý chất lƣợng sản phẩm và tối ƣu hóa quy trình sản xuất. Nhƣ vậy, lao động làm việc tại các khu công nghiệp không chỉ đơn thuần là lực lƣợng lao động phổ thông, mà còn bao gồm những cá nhân có tay nghề, đƣợc đào tạo và có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hiệu suất và chất lƣợng sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp. Đặc điểm lao động làm việc tại các khu công nghiệp Trƣớc hết, đây thƣờng là lực lƣợng lao động trẻ, chủ yếu từ 18 đến 35 tuổi, với trình độ học vấn thấp hoặc trung bình. Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội, phần lớn lao động trong KCN là lao động phổ thông, chƣa qua đào tạo 7 chuyên sâu.
Điều này dẫn đến nhu cầu đào tạo lại để nâng cao tay nghề và hiệu suất lao động. Thứ hai, tỷ lệ lao động nữ chiếm ƣu thế trong các KCN, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp nhẹ nhƣ may mặc, lắp ráp điện tử, và chế biến thực phẩm. Tỷ lệ này có thể chiếm tới 70-80% tổng số lao động tại một số khu công nghiệp. Lao động nữ thƣờng gặp phải các vấn đề liên quan đến sức khỏe và điều kiện làm việc, nhƣng họ vẫn đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế của khu vực.
Cuối cùng, phần lớn lao động tại các KCN là lao động di cƣ từ các vùng nông thôn, khiến họ gặp nhiều thách thức về nhà ở, y tế, và điều kiện sống. Những ngƣời lao động này thƣờng phải sinh sống trong các khu nhà trọ chật chội, thiếu các dịch vụ tiện ích cơ bản, dẫn đến ảnh hƣởng không nhỏ đến chất lƣợng cuộc sống và hiệu suất làm việc của họ.2 Vai trò của của lao động làm việc tại các khu công nghiệp Lao động làm việc tại các khu công nghiệp (KCN) đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, đặc biệt là các nƣớc đang công nghiệp hóa nhƣ Việt Nam. Trƣớc hết, họ là lực lƣợng chính tạo ra giá trị gia tăng thông qua sản xuất công nghiệp, góp phần nâng cao năng suất lao động và gia tăng xuất khẩu. Nguyễn Văn Tuấn (2019) cho rằng “lao động trong các KCN đã góp phần lớn trong việc tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế thông qua việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa với chi phí thấp và quy mô lớn, đồng thời giúp cải thiện cán cân thương mại quốc gia”.
Lao động tại KCN còn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và kinh tế. Họ giúp chuyển dịch lực lƣợng lao động từ các ngành nông nghiệp sang các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Bùi Minh Đức (2020) nhấn mạnh rằng quá trình này không chỉ giúp gia tăng thu nhập cho ngƣời lao động mà còn đóng góp vào việc cải thiện chất lƣợng nguồn nhân lực. Ngoài ra, lao động trong các KCN còn góp phần ổn định xã hội thông qua việc tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho ngƣời dân, đặc biệt là trong các vùng kinh tế trọng điểm.
Theo Phạm Thị Hƣơng (2021), “sự gia tăng của các khu công nghiệp đã giúp 8 giảm tỷ lệ thất nghiệp và thúc đẩy quá trình đô thị hóa, nâng cao đời sống và điều kiện làm việc cho một bộ phận lớn người lao động”. Những nội dung cơ bản về QLNN đối với lao động làm việc tại các KCN của địa phương cấp tỉnh a. Xây dựng và triển khai văn bản, chính sách đối với lao động tại các khu công nghiệp Trong nội dung quản lý nhà nƣớc (QLNN) đối với lao động làm việc tại các khu công nghiệp (KCN) của địa phƣơng cấp tỉnh, một trong những nhiệm vụ quan trọng là xây dựng và triển khai các văn bản, chính sách cụ thể nhằm bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của ngƣời lao động trong KCN. Các chính sách này thƣờng bao gồm các quy định về hợp đồng lao động, tiền lƣơng, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, và các phúc lợi liên quan.
Theo Luật Lao động 2019, một số văn bản quy phạm pháp luật và chính sách phải đƣợc các cơ quan nhà nƣớc cấp tỉnh xây dựng và ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho ngƣời lao động trong các KCN. Những quy định này cần phù hợp với thực tiễn của địa phƣơng, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và ngƣời lao động, đồng thời nâng cao chất lƣợng và điều kiện làm việc trong KCN. Ngoài ra, việc triển khai các văn bản chính sách cũng liên quan đến sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành của tỉnh, nhằm hƣớng dẫn doanh nghiệp thực hiện các quy định pháp luật lao động. Đặc biệt, các tỉnh cần xây dựng các chƣơng trình hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động, đồng thời giải quyết tranh chấp lao động, bảo đảm các chính sách phúc lợi xã hội đƣợc thực thi nghiêm túc.
Việc xây dựng và triển khai các chính sách tại địa phƣơng không chỉ nhằm đảm bảo quyền lợi của ngƣời lao động mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng b. Tổng hợp, xác định nhu cầu sử dụng lao động làm việc trong khu công nghiệp, khu kinh tế Trong quản lý nhà nƣớc đối với lao động làm việc tại các khu công nghiệp (KCN), việc tổng hợp và xác định nhu cầu sử dụng lao động là một nhiệm vụ quan trọng của cơ quan quản lý cấp tỉnh. Điều này giúp bảo đảm rằng lực lƣợng lao động 9 trong các khu công nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế và sự ổn định xã hội địa phƣơng. Theo Nghị định 82/2018/NĐ-CP về quản lý KCN và khu kinh tế, các cơ quan nhà nƣớc có trách nhiệm lập kế hoạch và tổ chức tổng hợp nhu cầu lao động từ các doanh nghiệp hoạt động trong KCN.
Cụ thể, việc này bao gồm việc thống kê số lƣợng lao động hiện tại, dự báo nhu cầu lao động trong các năm tới, và xác định những kỹ năng, trình độ lao động mà các doanh nghiệp cần. Quá trình này giúp đảm bảo cung cầu lao động phù hợp với nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp trong KCN, từ đó tránh tình trạng thiếu hụt hoặc dƣ thừa lao động. Việc xác định nhu cầu lao động trong KCN không chỉ dừng lại ở số lƣợng mà còn yêu cầu một sự phân tích chuyên sâu về cơ cấu lao động, trình độ chuyên môn, và các ngành nghề có nhu cầu cao. Theo quy định tại Thông tƣ 40/2016/TT-BLĐTBXH, các Sở Lao động - Thƣơng binh và Xã hội có trách nhiệm thu thập, phân tích và tổng hợp thông tin từ các doanh nghiệp trong KCN nhằm xây dựng chính sách và chiến lƣợc đào tạo lao động phù hợp.
Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các chƣơng trình đào tạo nghề, từ đó nâng cao chất lƣợng lao động đáp ứng yêu cầu công việc trong KCN. Nhƣ vậy, tổng hợp và xác định nhu cầu lao động trong KCN là một nội dung thiết yếu trong quản lý nhà nƣớc, nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững và ổn định của lực lƣợng lao động. Tổ chức đào tạo, cung ứng lao động cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Tổ chức đào tạo và cung ứng lao động cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp (KCN) là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý nhà nƣớc đối với lao động. Điều này nhằm bảo đảm nguồn nhân lực đáp ứng đủ cả về số lƣợng và chất lƣợng, phục vụ cho nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp trong KCN.
Theo quy định tại Nghị định 82/2018/NĐ-CP về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế, các cơ quan quản lý nhà nƣớc có trách nhiệm phối hợp với các cơ sở đào tạo nghề và các doanh nghiệp để tổ chức đào tạo lao động, nhằm đáp ứng yêu cầu kỹ năng và chuyên môn của các doanh nghiệp. Việc tổ chức đào tạo không chỉ dừng lại ở 10 các khóa học ngắn hạn mà còn bao gồm cả các chƣơng trình đào tạo nâng cao kỹ năng, đào tạo nghề chuyên sâu để lao động có thể thích nghi và phát triển cùng sự đổi mới công nghệ trong sản xuất. Công tác đào tạo lao động đƣợc phối hợp giữa Sở Lao động - Thƣơng binh và Xã hội, các trƣờng đại học, cao đẳng, trung cấp nghề, và doanh nghiệp trong KCN nhằm bảo đảm cung ứng lao động theo đúng yêu cầu của từng ngành nghề cụ thể.