Chương 1. Một số vấn đề lý luận về quyền nhân thân và pháp luật về bảo vệ quyền nhân thân của ngƣời lao động. Thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền nhân thân của ngƣời lao động và thực tiễn thực hiện. Hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật lao động Việt Nam về bảo vệ quyền nhân thân của ngƣời lao động.
10 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Khái quát chung về bảo vệ quyền nhân thân của ngƣời lao động 1. Quan niệm về quyền nhân thân của người lao động Chế định về QNT lần đầu đƣợc ghi nhận trong BLDS năm 1995, tiếp tục đƣợc kế thừa bởi BLDS năm 2005 và cho đến nay, khi BLDS năm 2015 đang có hiệu lực thì QNT vẫn đƣợc nhà làm luật dành hẳn một điều khoản riêng để quy định. Theo đó, QNT đƣợc quy định trong BLDS là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho ngƣời khác, trừ trƣờng hợp luật khác có liên quan quy định khác [27, Điều 25, Khoản 2].
Có thể thấy, QNT mới chỉ đƣợc ghi nhận là một quyền dân sự, tuy nhiên, cụ thể nội hàm của QNT là gì chƣa đƣợc giải thích bởi các nhà lập quy. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm của QNT, theo góc độ khách quan, QNT đƣợc hiểu là chế định pháp luật bao gồm tổng hợp các quy định pháp luật ghi nhận các quyền tinh thần gắn liền với mỗi cá nhân, là cơ sở pháp lý để cá nhân thực hiện các QNT trong sự bảo hộ của Nhà nƣớc và pháp luật [17, trang 8]. Tiếp nhận dƣới góc độ này của TS. Nguyễn Minh Oanh thì QNT mang bản chất pháp lý của một chế định pháp luật quy định về các loại, nội dung, phạm vi, cách thức bảo vệ giá trị tinh thần của mỗi cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để cá nhân thực hiện các quyền đó và đƣợc bảo vệ quyền khi có hành vi xâm phạm xảy ra.
Có lẽ đây cũng là cách tiếp cận của BLDS năm 2015 khi nội dung của các QNT đã đƣợc liệt kê từ Điều 26 đến Điều 39. Bản chất của QHLĐ cũng là một quan hệ tƣ và bản thân mỗi NLĐ cũng là một chủ thể trong đời sống pháp 11 luật dân sự nên họ cũng sẽ có đầy đủ các QNT đƣợc pháp luật dân sự ghi nhận mà điển hình nhƣ: quyền đối với sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín. Tuy nhiên, khi tham gia vào một QHLĐ cụ thể, với một NSDLĐ cụ thể, các QNT của NLĐ sẽ bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố nhƣ điều kiện lao động, thái độ của chủ sử dụng, chế độ làm việc.Mặc dù, cho đến thời điểm hiện tại, một khái niệm hoàn chỉnh về QNT của NLĐ chƣa đƣợc đƣa ra trong bất kể văn bản pháp luật lao động nào, nhƣng luật dân sự vẫn sẽ là cơ sở xác định các giá trị nhân thân của NLĐ. Dựa trên cơ sở đó, Luật lao động cũng có những quy định phù hợp, đặc thù liên quan đến việc tôn trọng và bảo vệ các QNT của NLĐ trong phạm vi điều chỉnh của mình.
Cách tiếp cận này cũng là cách tiếp cận trong việc định nghĩa về QNT của các tác giả trong các công trình nghiên cứu trƣớc đây. Tác giả Nguyễn Ngọc Trung Chánh trong luận văn thạc sĩ của mình đã đƣa ra quan điểm nhƣ sau về khái niệm QNT của NLĐ: Quyền nhân thân của ngƣời lao động là quyền dân sự của cá nhân ngƣời lao động với các nội dung cơ bản về đảm bảo về tính mạng và sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của ngƣời lao động khi tham gia vào quan hệ lao động với ngƣời sử dụng lao động [6, tr. Một quan điểm khác về khái niệm QNT của NLĐ cũng đƣợc đƣa ra bởi Thạc sĩ Nguyễn Quỳnh Nga nhƣ sau: Quyền nhân thân của ngƣời lao động là quyền đƣợc làm việc, quyền đƣợc bảo hộ lao động, quyền đƣợc bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe thân thể, quyền đƣợc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của ngƣời lao động trong quá trình tham gia quan hệ lao động với ngƣời sử dụng lao động [20, tr. Nhƣ vậy, trong quan điểm về định nghĩa về QNT của cả hai tác giả này thì QNT của NLĐ đƣợc ghi nhận là quyền dân sự theo tinh thần của pháp luật 12 dân sự với nội hàm là những quyền đƣợc ghi nhận trong các điều khoản của BLDS hiện hành đặt trong phạm vi của QHLĐ.
Từ những phân tích kể trên, tác giả luận văn xin đƣa ra khái niệm về QNT của NLĐ nhƣ sau: “Quyền nhân thân của người lao động là quyền dân sự của cá nhân người lao động với các nội dung cơ bản về đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe và thân thể; danh dự, nhân phẩm và uy tín; quyền về sự riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người lao động khi tham gia vào quan hệ lao động với người sử dụng lao động” 1. Đặc điểm quyền nhân thân của người lao động. Thứ nhất, quyền nhân thân của người lao động là một quyền tuyệt đối. Xuất phát từ bản chất pháp lý của quyền dân sự, QNT của NLĐ cũng đƣợc thừa hƣởng đặc tính của thứ quyền tuyệt đối.
Tƣơng tự nhƣ bất kể một tự nhiên nhân nào đƣợc sinh ra trong giới hữu sinh, với những lợi ích tinh thần đƣợc mặc nhiên thừa nhận và bảo vệ. Kể từ khi quan hệ pháp luật lao động đƣợc khai sinh, QNT của NLĐ khi bƣớc chân tham gia vào QHLĐ cũng sẽ đƣợc pháp luật ghi nhận cùng những biện pháp bảo vệ đƣợc thiết lập. Là một chủ thể trong đời sống dân sự, QNT của NLĐ cần phải đƣợc ghi nhận là thứ quyền tuyệt đối, có hiệu lực đối với tất cả chủ thể khác ngoài xã hội, không phân biệt có nằm trong phạm vi của QHLĐ hay không, miễn là có những sự tác động nhất định đến QNT của NLĐ trong QHLĐ thì chủ thể đó có nghĩa vụ phải tôn trọng. Bất kể ai có hành vi xâm phạm đến QNT của NLĐ đều phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi từ hành vi vi phạm của mình theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, quyền nhân thân của người lao động gắn chặt, không thể tách rời đối với mỗi cá nhân người lao động. Bản chất QNT của NLĐ chính là khả năng của mỗi NLĐ trong việc thực hiện tất cả các quyền tự nhiên đƣợc đảm bảo trong suốt quá trình tham gia QHLĐ. Những quyền tự nhiên này hàm 13 chứa những giá trị nhân thân khác nhau. Giá trị nhân thân đƣợc TS.
Nguyễn Minh Oanh nhận định là các giá trị tinh thần mà các bên hƣớng tới [17, trang 10]. Mỗi giá trị nhân thân này sẽ đƣợc định đoạt bằng tiêu chí riêng của mỗi NLĐ. Tiêu chí này phụ thuộc vào kinh nghiệm, trải nghiệm, môi trƣờng sống, quan hệ xã hội phân biệt cá nhân NLĐ này với cá nhân NLĐ khác. Những yếu tố này gắn bó mật thiết, hữu cơ với mỗi cá nhân NLĐ, không thể tách rời khỏi họ để áp đặt lên bất cứ một chủ thể nào khác.
Mặt khác, QNT của NLĐ liên quan đến quá trình NLĐ đem SLĐ để tham gia vào QHLĐ. SLĐ là giá trị nội tại nằm trong mỗi cá nhân, không thể tách rời khỏi mỗi cá nhân. Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của SLĐ. Trên thực tế, không một cá nhân nào có thể chuyển nhƣợng HĐLĐ để đổi lại những giá trị nhất định, cũng không thể tặng cho HĐLĐ để nhận lại những lợi ích cần thiết và cũng không thể đặt ra câu chuyện về thừa kế HĐLĐ.
Điều này càng làm chắc chắn về tính chất không thể dịch chuyển của SLĐ từ cá nhân NLĐ này sang cá nhân NLĐ khác. Thứ ba, quyền nhân thân của người lao động mang tính chất tinh thần phi tài sản. Những giá trị tinh thần đƣơng nhiên không thể biểu hiện thành những dạng vật chất cụ thể có thể cảm nhận bằng con đƣờng tri giác, mà chỉ có thể bằng con đƣờng trừu tƣợng. Thêm vào đó, các giá trị tinh thần không thể nào đƣợc định giá một cách chính xác tuyệt đối.
Chính vì vậy, sẽ là điều bất khả thi khi đƣa các giá trị tinh thần vào trong các giao lƣu dân sự để tiến hành trao đổi ngang giá. Điều này không hề mâu thuẫn với việc bồi thƣờng thiệt hại trong trƣờng hợp có hành vi xâm phạm QNT của NLĐ từ phía chủ thể có hành vi vi phạm. Việc bồi thƣờng thiệt hại bằng tiền hay bằng hiện vật thì nó cũng không phải biểu hiện của sự ngang giá giữa phần thiệt hại về tinh thần mà NLĐ có QNT bị xâm phạm phải gánh chịu với giá trị tiền tệ, giá trị hiện vật mà NLĐ đó nhận đƣợc. Đây chỉ là những giá trị tƣơng đƣơng đƣợc đánh giá dựa trên những tiêu chí khách quan làm sao để phần nào bù đắp 14 những tổn thất, để đƣa những lợi ích về mặt tinh thần của NLĐ bị xâm phạm về QNT trở về với trạng thái vốn có ban đầu.
Thứ tư, quyền nhân thân của người lao động rất dễ bị xâm phạm. Đặc điểm này xuất phát từ sự bất cân xứng về mặt vị thế trong QHLĐ. NLĐ bao giờ cũng ở vị thế yếu hơn so với NSDLĐ dẫn đến NSDLĐ thƣờng có xu hƣớng cố ý hay vô tình xâm phạm đến QNT của NLĐ khi các bên chẳng thể nào tìm đƣợc tiếng nói chung trong những nỗ lực hài hòa về mặt lợi ích. Bản thân NLĐ cũng sẽ có xu hƣớng đánh đổi QNT của mình để mặc cả những điều kiện tốt hơn trong QHLĐ, thậm chí sẵn sàng bỏ qua ngay cả khi QNT của mình bị xâm phạm chỉ vì kế sinh nhai.
Khái niệm bảo vệ quyền nhân thân của người lao động Trong QHLĐ, sự khác biệt giữa quan hệ này và quan hệ dân sự thông thƣờng đƣợc biểu hiện: nếu trong quan hệ dân sự, các chủ thể tự do tìm đến nhau để thiết lập nên các thỏa thuận, bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý và thực hiện một cách thiện chí các cam kết đƣợc đƣa ra; thì trong QHLĐ, mặc dù cơ sở của quan hệ này cũng là hợp đồng nhƣng tồn tại trong đó sự bất cân xứng cả về vị thế và lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ.