phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về điều kiện lao động Chƣơng 2: Thực trạng điều kiện lao động khối sản xuất trực tiếp tại Công ty CP Diana Unicharm giai đoạn 2010-2014 Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện điều kiện lao động khối sản xuất trực tiếp tại Công ty CP Diana Unicharm 8 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Lao động Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình. Trong quá trình sản xuất, con người sử công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người. Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội. Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào.
Như vậy động lực của quá trình triến kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con người. Con người với lao động sáng tạo của họ đang là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, phải thực sự giải phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên, trước hết giải phóng người lao động, phát triển kiến thức và những khả năng sáng tạo của con người. Vai trò của người lao động đối với phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng là rất quan trọng.
Nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động ( theo quy định của nhà nước: nam có tuổi từ 16-60; nữ tuổi từ 16-55). Lực lượng lao động là bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm trong nền kinh tế quốc dân và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm.2 Điều kiện lao động Trong quá trình lao động để tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội, con người phải làm việc trong những điều kiện nhất định. Chúng ta gọi đó là điều kiện lao động Vậy điều kiện lao động là gì ? Theo giáo trình Tổ chức lao động khoa học , Trường Đại học kinh tế Quốc dân trang 186, điều kiện lao động được hiểu là tổng 9 hợp các nhân tố của môi trường sản xuất có ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng làm việc của người lao động Nhưng giáo trình Y học Nhà xuất bản y học Hà Nội 1994 lại định nghĩa: Điều kiện lao động được hiểu là một tổng thể các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế, xã hội được biểu hiện bằng các công cụ lao động, đối tượng lao động, quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự tác động qua lại, bố trí sắp xếp chúng trong mối quan hệ với con người, tạo lên một điều kiện nhất định cho người trong quá trình lao động. Cho dù các nhà khoa học có nhìn nhận và định nghĩa điều kiện lao động trên các giác độ nào đi chăng nữa, thì hầu hết đều thống nhất ở cách định nghĩa sau: Điều kiện lao động tại nơi làm việc là tập hợp các yếu tố của môi trường lao động (các yếu tố vệ sinh, tâm sinh lý, tâm lý xã hội và thẩm mỹ xã hội và thẩm mỹ) có tác động đến trạng thái chức năng của cơ thể con người, khả năng làm việc, thái độ lao động, sức khỏe, quá trình tái sản xuất sức lao động và hiệu quả lao động của họ trong hiện tại cũng như về lâu dài.3 Cải thiện điều kiện lao động Cải thiện điều kiện lao động là các biện pháp để giảm bớt sự tác động gây hại của các yếu tố điều kiện lao động đến con người trong quá trình lao động sản xuất nhằm ngăn chặn và giảm thiểu tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, bảo vệ sức khỏe cho người lao động và cộng đồng (Theo giáo trình Tổ chức lao động khoa học trong xí nghiệp – Trường Đại học Kinh tế quốc dân- năm 1994- trang 188) 1.4 Lao động khối sản xuất trực tiếp 1.1 Khái niệm khối sản xuất trực tiếp Khối sản xuất trực tiếp là khối trực tiếp tham gia vào quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào biến chúng thành các sản phẩm đầu ra nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người.2 Khái niệm lao động khối sản xuất trực tiếp Lao động khối sản xuất trực tiếp là những người lao động trực tiếp tham gia vào quy trình tạo ra sản phẩm chất lượng như người điểu khiển thiết bị máy móc, người phục vụ quy trình sản xuất nhằm đảm bảo việc cung ứng sản phẩm ra thị trường của doanh nghiệp.3 Đặc điểm công việc của lao động khối sản xuất trực tiếp Lao động khối sản xuất trực tiếp là người chịu trách nhiệm về sản phẩm, chất lượng cũng như số lượng sản phẩm và thời gian tạo ra sản phẩm.
Họ là những lao động chân tay phải trực tiếp thao tác tạo ra những sản phẩm, phải tiêu hao sức cơ bắp là chủ yếu và một phần trí óc kéo dài trong thời gian lao động. Lao động khối sản xuất trực tiếp tại các doanh nghiệp lớn thường phải làm việc theo dây chuyền sản xuất với quy mô hiện đại nên tính tổ chức, tính tập thể cao. Ngoài ra, lao động khối sản xuất trực tiếp là đối tượng chiếm số lượng tương đối lớn tại một doanh nghiệp sản xuất, có vai trò vô cùng quan trọng trong việc trực tiếp tạo ra sản phẩm chất lượng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng trên thị trường.4 Phân loại lao động khối sản xuất trực tiếp (1) Theo tính chất công việc + Lao động quản lý cấp cơ sở (Quản lý lao động trực tiếp): Là những người hỗ trợ vào quá trình tạo ra sản phẩm, giám sát trực tiếp quá trình tạo sản xuất. + Lao động sản xuất trực tiếp: Lao động trực tiếp tham gia vào quá trình tạo sản phẩm đảm bảo chất lượng đầu ra cho sản phẩm (2) Theo tính chất phương pháp sản xuất + Lao động kỹ thuật: Là những người lao động được đào tạo về tay nghề và khoa học công nghệ.
Do đó, họ có thể vận hành và sử dụng được khoa học kỹ thuật trong sản xuất. + Lao động phổ thông: Là những người lao động mà họ chỉ được đào tạo qua về kỹ năng lao động giản đơn, không có khả năng tiếp cận với khoa học công nghệ. Do đó, họ là những người chủ yếu tạo ra các sản phẩm thô hay thực hiện công việc đơn giản trong quy trình sản xuất 11 1. Nội dung của công tác cải thiện điều kiện lao động 1.
Cải thiện điều kiện chiếu sáng trong sản xuất Trong sản xuất, ánh sáng là một yếu tố quan trọng, không những ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động mà còn ảnh hưởng đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Ánh sáng là một dạng năng lượng bức xạ điện tử, trong đó, ánh sáng tự nhiên là ánh sáng ban ngày do mặt trời chiếu sáng thích hợp và có tác dụng tốt đối với sinh lý con người, ánh sáng nhân tạo được phát ra từ hệ thống đèn chiếu sáng nhân tạo. Chiếu sáng hiệu quả tại nơi làm việc phải đảm bảo kết hợp chiếu sáng tự nhiên và chiếu sáng nhân tạo. Thị lực mắt người lao động bị phụ thuộc rất nhiều vào độ chiếu sáng trong sản xuất.
Độ chiếu sáng đạt tới mức quy định thì thị lực của mắt phát huy được năng lực làm việc cao nhất và độ ổn định của thị lực mắt càng bền. Thành phần quang phổ của nguồn ánh sáng cũng có tác dụng lớn đối với mắt. Ánh sáng màu vàng, màu da cam giúp cho mắt làm việc tốt hơn. Trong thực tế sản xuất, ánh sáng được bố trí đầy đủ, màu sắc của ánh sáng thích hợp thì năng suất lao động tăng từ 20 – 30%.
Nếu không đảm bảo điều ấy sẽ làm cho mắt chóng mệt mỏi, dẫn đến cận thị làm giảm khả năng lao động và có thể dẫn đến tai nạn lao động. Cải thiện điều kiện tiếng ồn Tiếng ồn là tập hợp các âm thanh có cường độ và tần số khác nhau gây cảm giác khó chịu cho con người trong điều kiện làm việc cũng như nghỉ ngơi. Các thông số chính của tiếng ồn + Tần số ( Hz): là số dao động của sóng âm trong một đơn vị thời gian và đặc trưng cho độ trầm hay bổng của âm thanh. Tần số thấp âm trầm, tần số cao âm bổng + Cường độ tiếng ồn ( dB) : Đặc trưng cho độ mạnh hay yếu của âm thanh.
Cường độ càng lớn nghe càng rõ, cường độ càng nhỏ nghe càng bé. Cường độ phụ thuộc và mức áp suất đơn vị là dB. Thang đo cường đọ ồn có mức áp suất âm từ 0- 130dB. Mức áp suất âm lớn hơn 13dB gây cảm giác chói tai, lớn hơn 140dB có thể gây thủng màng nhĩ.
12 + Ocsota: Là khoảng tần số mà âm đầu có tần số bẳng nửa âm cuối. Tần số trung tâm của Ocsota là tần số trung bình nhân. Trong thực tế đo ồn có phân tích các giải tần số cần đo 8 tần số trung tâm của Ocsota từ 63Hz-8000Hz Phân loại tiếng ồn Tiếng ồn trong sản xuất được chia thành nhiều loại nhưng có 2 cách phân loại chủ yếu : Theo đặc tính của nguồn ồn : căn cứ vào nguồn gốc phát ra tiếng ồn ta có thể chia thành các loại : - Tiếng ồn cơ học do chuyển động của các bộ phận máy. - Tiếng ồn do va chạm như quá trình rèn, dập, tán.
- Tiếng ồn khí động do hơi chuyển động với vận tốc cao : tiếng động cơ phản lực, tiếng máy nén hút khí,… - Tiếng nổ hoặc xung động khi động cơ đốt trong hoặc diesel làm việc. Theo tần số âm thanh : căn cứ vào sức nghe của tai người có các loại : - Hạ âm có tần số < 20Hz, tai người không nghe thấy. - Âm tai người nghe được có tần số 20Hz – 16KHz. - Siêu âm có tần số > 20KHz, tai người không nghe thấy.
Ngoài ra người ta có thể phân loại tiếng ồn theo dải tần số, cách lan truyền nguồn ồn, theo phổ,… 1. Cải thiện điều kiện độ rung động trong sản xuất Trong lao động sản xuất, các thiết bị máy móc, dây chuyền công nghệ thường phát sinh cả tiếng ồn và rung động. Rung động là những dao động cơ học phát sinh từ các động cơ và dụng cụ sản xuất.