CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VÁN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về nguồn lực tài chính từ đất đai Đất đai là một trong những nhân tố cơ bản của sự tồn tại quốc gia, đó là vật thể tự nhiên không do con người tạo ra tuy có thể làm thay đổi trong quá trình sử dụng (được tưới tiêu, lấn biển, xây dựng nhà ở, đô thị.), chính nhờ vậy mà đất đai trở nên có giá trị [2]. Tùy theo khoa học xã hội, lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội, các nguồn lực được khai thác nhằm phục vụ cho nhu cầu của con người rất khác nhau.
Do đó, vị trí và vai trò của các nguồn lực là khác nhau [39]. Nguồn lực phát triển kinh tế có thể phân theo ngành, theo lĩnh vực,…Theo nhận thức phổ biến hiện nay, các nguồn lực bao gồm: nguồn lực con người, nguồn lực đất đai, nguồn lực tài chính, nguồn lực khoa học công nghệ,…hay cách hiểu tương tự là vốn, lao động, đất đai, tri thức [39]. Với phạm vi của đề tài, cần làm rõ các phạm trù về nguồn lực và nguồn lực tài chính. Nói đến nguồn lực là nói đến một hệ thống những yếu tố của tự nhiên hay xã hội nhằm mục đích cho sự phát triển của xã hội loài người [28].
Tùy thuộc vào trình độ phát triển của xã hội mà cách nhìn nhận và tiếp cận về nguồn lực cũng khác nhau. Theo nhận thức về nguồn lực trong giai đoạn hiện nay thì nguồn lực có thể được phân chia thành: Nguồn lực con người, nguồn lực đất đai, nguồn lực tài chính, nguồn lực khoa học kỹ thuật. Tài chính là hệ thống quan hệ kinh tế biểu hiện trong lĩnh vực hình thành và phân phối quỹ tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm xây dựng và phát triển xã hội. Nguồn lực tài chính là khối lượng giá trị dưới hình thái tiền tệ được hình thành trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, phản ánh các mối quan hệ kinh tế - xã hội trong phân phối nhằm đáp ứng các yêu cầu chi tiêu bằng tiền để thực hiện quá trình tái sản xuất các mặt hoạt động của các chủ thể trong xã hội [39].
Như vậy, bản chất của nguồn lực tài chính là phạm trù phân phối; đó là sự phân phối bằng giá trị chứ không phải bằng hiện vật và thông qua hiện vật. Nguồn lực tài chính được biểu hiện rất khác nhau, tùy theo nguồn gốc hình thành mà chủ thể có thể thực hiện để có được các quỹ tiền tệ. Thông qua các nguồn lực tài chính mà những chủ thể trong xã hội có được hệ thống các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung vận động độc lập với các chức năng cất trữ hay phương tiện thanh toán. Nguồn lực tài PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 chính là sự vận động của tiền tệ Với cách hiểu như vậy, để hình thành nguồn tài chính hay các quỹ tiền tệ vận động tập trung, các chủ thể trong xã hội có thể khai thác từ nhiều nguồn lực khác nhau trong đó có nguồn lực từ đất đai 1.
Nguồn lực tài chính từ đất đai Nguồn lực tài chính từ đất đai là nguồn lực tài chính được hình thành thông qua quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sở hữu và sử dụng đất đai trong một xã hội nhất định và chịu sự chi phối của chế độ sở hữu của xã hội đó[39]. Như vậy, có thể hiểu một cách tổng quát là: Nguồn lực tài chính từ đất đai là nguồn lực tài chính được hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường, hiểu một cách thuần nhất là có sự xuất hiện của thị trường đất đai (thị trường bất động sản). Địa tô và bản chất của địa tô a. Địa tô Đất đai vốn là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại ngoài ý muốn của con người, có trước con người và không phải do lao động tạo ra [4].
Tuy nhiên đất đai là nguồn lực vô cùng quan trọng, nó không phải là nguồn gốc tạo ra mọi giá trị nhưng nó là điều kiện không thể thiếu để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Địa tô là phần sản phẩm thặng dư do những người sản xuất trong nông nghiệp tạo ra và nộp cho người chủ sở hữu ruộng đất. Địa tô gắn liền với sự ra đời và tồn tại của chế độ tư hữu về ruộng đất. Đã từng tồn tại trong các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cả trong thời kì đầu của chủ nghĩa xã hội.
Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, địa tô là do lao động của nô lệ và những người chiếm hữu ruộng đất nhỏ tự do tạo ra. Trong chế độ phong kiến, địa tô là phần sản phẩm thặng dư do nông nô tạo ra và bị chúa phong kiến chiếm đoạt, có khi còn bao gồm cả một phần sản phẩm tất yếu. Trong chủ nghĩa tư bản, do còn chế độ tư hữu về ruộng đất trong nông nghiệp nên vẫn tồn tại địa tô. Về thực chất, địa tô tư bản chủ nghĩa chính là phần giá trị thặng dư thừa ra ngoài lợi nhuận bình quân và do nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp trả cho địa chủ.
Nguồn gốc của địa tô tư bản chủ nghĩa vẫn là do lao động thặng dư của công nhân nông nghiệp làm thuê tạo ra. địa tô tư bản chủ nghĩa phản ánh quan hệ giữa ba giai cấp: địa chủ, tư bản kinh doanh nông nghiệp và công nhân nông nghiệp làm thuê. Trong chủ nghĩa tư bản, có các loại địa tô [29]. - Địa tô tuyệt đối: Khi nghiên cứu về địa tô tuyệt đối, C.Mác cho rằng bản thân quyền sở hữu không đem lại địa tô cho chủ đất, nhưng về mặt pháp lý nó đem lại cho chủ đất quyền thu một khoản tiền từ người thuê đất và lượng địa tô phải trả cho mảnh đất xấu nhất được xác định là cơ sở tính toán.
Nguồn gốc sinh ra địa tô tuyệt đối trong nông nghiệp là do nông sản được bán theo giá cả thị trường cao hơn giá cả sản xuất. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Bên cạnh đó, việc độc quyền sở hữu và độc quyền kinh doanh ruộng đất trong nông nghiệp đã loại trừ quy luật bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận, do đó hình thành lợi nhuận siêu ngạch và phần lợi nhuận siêu ngạch này chuyển hóa thành địa tô tuyệt đối Địa tô tuyệt đối là số lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, hình thành nên bởi chênh lệch giữa giá trị nông sản với giá cả sản xuất chung của nông phẩm[58]. - Địa tô chênh lệch: nông nghiệp có một số đặc điểm khác với công nghiệp như số lượng đất bị giới hạn, độ màu mỡ tự nhiên và vị trí địa lý của ruộng đất không giống nhau. Khi dân số ngày càng tăng, nhu cầu về lương thực của xã hội cũng ngày càng nhiều; việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất cũng ngày càng phức tạp…những điều này đòi hỏi phải canh tác trên tất cả các loại ruộng, kể cả ruộng tốt, ruộng trung bình và ruộng xấu, ruộng gần và ruộng xa thị trường tiêu thụ.
Điều này dẫn tới giá trị xã hội của nông sản hàng hóa phải được hình thành từ điều kiện sản xuất của những ruộng đất xấu nhất. Đây là đặc điểm quan trọng trong sự hoạt động của quy luật giá trị trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, đặc điểm này làm cho những chủ thể canh tác trên những ruộng tốt và trung bình có được lợi nhuận siêu ngạch [42]. Do tình trạng độc quyền kinh doanh (độc quyền sử dụng, canh tác) nên số lợi nhuận siêu ngạch trong nông nghiệp không được bình quân hóa. Nó tồn tại ổn định và tương đối lâu dài đối với một chủ thể sử dụng đất, lượng lợi nhuận siêu ngạch này chuyển hóa thành địa tô và rơi vào túi chủ sở hữu ruộng đất dưới hình thức địa tô chênh lệch Địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân thu được trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn.
Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình [58]. Địa tô chênh lệch có 2 loại: Địa tô chênh lệch I và địa tô chênh lệch II. Địa tô chênh lệch I là loại địa tô thu được trên những ruộng đất điều kiện tự nhiên thuận lợi [58]. Địa tô chênh lệch II là địa tô thu được gắn liền với thâm canh tăng năng suất - kết quả của đầu tư thêm tư bản vào một đơn vị diện tích đất đai [58].
Việc vận dụng lý luận địa tô chênh lệch trong nông nghiệp của C.Mác tiến hành tính toán địa tô chênh lệch còn nhiều ý kiến khác nhau do tính đặc thù của đất và sự thay đổi của những nhân tố tác động. Mặc dù có nhiều yếu tố ảnh hưởng nhưng thứ hạng đất, mức chênh lệch địa tô đất và việc xác định mức tối đa, tối thiểu của lượng địa tô chênh lệch là ba yếu tố chủ yếu để định lượng địa tô chênh lệch - Địa tô độc quyền: Nguồn gốc của địa tô độc quyền cũng là lợi nhuận siêu PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 ngạch do giá cả độc quyền của sản phẩm thu được trên đất đai ấy mà nhà tư bản phải nộp cho địa chủ [58]. Trong nông nghiệp, địa tô độc quyền ở các khu đất có tính chất đặc biệt, cho phép trồng các loại cây đặc sản hay sản xuất các sản phẩm đặc biệt; trong công nghiệp khai thác, địa tô độc quyền ở các vùng khai thác các kim loại, khoáng chất quý hiếm hoặc những khoáng sản có nhu cầu vượt xa khả năng khai thác của chúng. Trong thành thị, địa tô độc quyền có ở các khu đất có vị trí thuận lợi cho phép xây dựng các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, nhà cho thuê có khả năng thu lợi nhuận cao [42].
Trong nền kinh tế thị trường, khi mà quan hệ hàng hóa - tiền tệ phát triển thì thị trường cũng phát triển. Ngoài thị trường hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ thông thường, còn có thị trường các yếu tố đầu vào của sản xuất. Trong đó thị trường bất động sản (BĐS) có vị trí vô cùng quan trọng. Trên thị trường này người ta thực hiện việc chuyển nhượng, mua bán quyền sử dụng đất (QSDĐ), qua đó có được những khoản thu nhập vô cùng lớn.