Luận án tiến sĩ về pháp luật giao đất cho đầu tư xây dựng nhà ở thương mại

Luận án tiến sĩ nghiên cứu pháp luật về giao đất để đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực luật học tại Việt Nam.

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

199
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu

6. Những đóng góp mới của luận án

1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài

1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nƣớc

1.2. Đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và định hƣớng nghiên cứu của luận án

1.2.1. Đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.2.2. Định hƣớng nghiên cứu của luận án

1.3. Cơ sở lý thuyết của luận án

1.3.1. Lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu đề tài luận án

1.4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

1.5. Kết luận chƣơng 1

2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO ĐẤT ĐỂ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG NHÀ Ở THƢƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIAO ĐẤT ĐỂ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG NHÀ Ở THƢƠNG MẠI

2.1. Lý luận về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

2.1.1. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam và sự ảnh hƣởng đến phƣơng thức trao quyền sử dụng đất cho chủ thể sử dụng đất

2.1.2. Khái niệm nhà ở thƣơng mại

2.1.3. Khái niệm giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

2.1.4. Các phƣơng thức giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

2.1.5. Nguyên tắc giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

2.2. Lý luận chung về pháp luật giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

2.2.1. Khái niệm pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

2.2.2. Cơ cấu pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

2.2.3. Các yếu tố chi phối, tác động đến pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

2.2.4. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại ở Việt Nam

2.3. Kết luận chƣơng 2

3. PHÁP LUẬT VỀ GIAO ĐẤT ĐỂ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG NHÀ Ở THƢƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ GIAO ĐẤT ĐỂ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG NHÀ Ở THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

3.1. Nội dung pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

3.1.1. Căn cứ giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

3.1.2. Điều kiện đƣợc giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

3.1.3. Chủ thể đƣợc giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

3.1.4. Thẩm quyền giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

3.1.5. Trình tự, thủ tục giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

3.1.6. Quyền và nghĩa vụ của chủ thể đƣợc giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

3.1.7. Thanh tra, giám sát về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

3.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại ở Việt Nam

3.2.1. Những kết quả đạt đƣợc trong thực tiễn thi hành pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại ở Việt Nam

3.2.2. Những hạn chế, vƣớng mắc trong thực tiễn thi hành pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại ở Việt Nam và nguyên nhân

3.3. Kết luận chƣơng 3

4. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO ĐẤT ĐỂ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG NHÀ Ở THƢƠNG MẠI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIAO ĐẤT ĐỂ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG NHÀ Ở THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

4.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

4.1.1. Pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại phải đảm bảo chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

4.1.2. Pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại phải đảm bảo tôn trọng cơ chế thị trƣờng, phù hợp với các quy luật của nền kinh tế thị trƣờng: quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh

4.1.3. Pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại phải đảm bảo tính minh bạch, công khai, công bằng trong tiếp cận quyền sử dụng đất của chủ đầu tƣ

4.1.4. Pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại phải đảm bảo động viên đƣợc tốt nhất nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc, đảm bảo khai thác hiệu quả giá trị của quyền sử dụng đất

4.1.5. Pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại phải phù hợp với nhu cầu nhà ở của xã hội, đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trƣờng

4.2. Những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

4.2.1. Sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật đất đai về căn cứ giao đất và điều kiện giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

4.2.2. Không quy định trƣờng hợp giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại không thông qua đấu giá

4.2.3. Cần quy định hội đồng định giá độc lập với cơ quan quản lý nhà nƣớc để định giá đất phù hợp với giá thị trƣờng

4.2.4. Luật Đất đai cần làm rõ khái niệm thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

4.3. Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

4.3.1. Nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của cán bộ có thẩm quyền trong quản lý đất đai

4.3.2. Minh bạch hóa thông tin thông qua việc đẩy mạnh việc xây dựng chính phủ điện tử

4.3.3. Nâng cao hiệu quả của hoạt động lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giảm tình trạng điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất

4.3.4. Tăng cƣờng công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại

4.4. Kết luận chƣơng 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BẢNG

Tóm tắt

I. Giới thiệu về pháp luật giao đất

Pháp luật về giao đất để đầu tư xây dựng nhà ở thương mại là một lĩnh vực quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Nó không chỉ liên quan đến quyền sử dụng đất mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và xã hội. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam quy định rằng đất đai thuộc sở hữu của toàn dân, do Nhà nước đại diện quản lý. Điều này tạo ra một khung pháp lý cho việc giao đất cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, việc giao đất cần phải tuân thủ các nguyên tắc và quy định cụ thể để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc tiếp cận đất đai. Theo đó, các phương thức giao đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất được áp dụng phổ biến, nhằm đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư. Việc nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về giao đất là cần thiết để thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường bất động sản.

1.1. Khái niệm và vai trò của giao đất

Khái niệm giao đất để đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được hiểu là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân nhằm thực hiện các dự án xây dựng nhà ở thương mại. Vai trò của giao đất trong phát triển kinh tế là rất lớn, bởi nó không chỉ tạo ra cơ hội cho các nhà đầu tư mà còn đáp ứng nhu cầu về nhà ở cho người dân. Quy hoạch đô thịchính sách đầu tư cũng cần được xem xét để đảm bảo rằng việc giao đất diễn ra một cách hợp lý và hiệu quả. Việc xác định rõ các điều kiện đầu tưquyền sử dụng đất sẽ giúp giảm thiểu các tranh chấp và khiếu kiện liên quan đến đất đai, đồng thời tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi hơn.

II. Thực trạng pháp luật về giao đất

Thực trạng pháp luật về giao đất để đầu tư xây dựng nhà ở thương mại hiện nay cho thấy nhiều điểm bất cập. Mặc dù đã có nhiều quy định pháp luật như Luật Đất đai, Luật Kinh doanh Bất động sản, và Luật Nhà ở, nhưng việc thực thi vẫn gặp nhiều khó khăn. Các quy định về quyền sử dụng đấtthẩm quyền giao đất chưa rõ ràng, dẫn đến tình trạng chồng chéo và mâu thuẫn trong các văn bản pháp luật. Điều này không chỉ gây khó khăn cho các nhà đầu tư mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Hơn nữa, việc tiếp cận thông tin về đất đai còn hạn chế, khiến cho các nhà đầu tư gặp khó khăn trong việc tìm hiểu và thực hiện các dự án. Do đó, cần có những giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình này, nhằm tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi hơn cho đầu tư xây dựng nhà ở thương mại.

2.1. Những hạn chế trong thực thi pháp luật

Một trong những hạn chế lớn nhất trong thực thi pháp luật về giao đất là sự thiếu minh bạch trong quy trình và thủ tục. Nhiều nhà đầu tư gặp khó khăn trong việc hiểu rõ các bước cần thiết để được giao đất. Hơn nữa, việc thanh tra, giám sát hoạt động giao đất còn yếu, dẫn đến tình trạng lạm dụng quyền lực và tham nhũng. Các quy định về điều kiện giao đất cũng chưa được thực hiện một cách đồng bộ, gây khó khăn cho các nhà đầu tư trong việc đáp ứng yêu cầu. Để khắc phục những hạn chế này, cần có sự cải cách mạnh mẽ trong quy trình giao đất, đảm bảo tính minh bạch và công bằng cho tất cả các bên liên quan.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao đất

Để hoàn thiện pháp luật về giao đất cho đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Trước hết, cần sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành để làm rõ các căn cứ giao đấtđiều kiện giao đất. Việc quy định rõ ràng về thẩm quyền giao đất cũng rất quan trọng, nhằm tránh tình trạng chồng chéo và mâu thuẫn trong các quy định. Hơn nữa, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động giao đất, đảm bảo rằng các quy trình được thực hiện một cách minh bạch và công bằng. Cuối cùng, việc nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ quản lý đất đai cũng là một yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả trong việc thực thi pháp luật về giao đất.

3.1. Đề xuất các chính sách mới

Các chính sách mới cần được đề xuất nhằm cải thiện tình hình giao đất hiện nay. Một trong những chính sách quan trọng là xây dựng một hệ thống thông tin đất đai minh bạch, giúp các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận thông tin cần thiết. Bên cạnh đó, cần có các chương trình đào tạo cho cán bộ quản lý đất đai, nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất đạo đức trong công tác quản lý. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý đất đai cũng sẽ giúp tăng cường tính minh bạch và hiệu quả trong quy trình giao đất. Những chính sách này không chỉ giúp cải thiện môi trường đầu tư mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường bất động sản.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Chƣơng 2. Những vấn đề lý luận về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại và pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại Chƣơng 3. Pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại và thực tiễn thi hành pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại ở Việt Nam Chƣơng 4.

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giao đất để đầu tƣ xây dựng nhà ở thƣơng mại. luan an 10 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Việt Nam là một trong số ít các quốc gia hiện nay trên thế giới ghi nhận hình thức sở hữu toàn dân mà Nhà nƣớc là đại diện chủ sở hữu về đất đai. Theo đó, quyền quản lý, kiểm soát và chi phối mọi loại đất ở phạm vi tổng thể của nền kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh đều thuộc về Nhà nƣớc. Đó cũng là nguyên do dẫn đến sự khác biệt trong phƣơng thức nhà nƣớc trao quyền SDĐ cho các chủ thể SDĐ cả về mặt pháp lý và thực tế so với các quốc gia không duy trì chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

Tính khác biệt một cách tổng quát có thể dễ nhận thấy đó là, trong các phƣơng thức trao quyền SDĐ cho các chủ thể SDĐ dù trực tiếp hay gián tiếp luôn thể hiện sự can thiệp và chi phối sâu rộng của Nhà nƣớc. Cụ thể: cho phép quyền SDĐ đó thuộc về cá nhân hay pháp nhân, quy mô nhƣ thế nào, sử dụng cho mục đích gì và trao quyền đó dƣới hình thức nào: giao hay cho thuê, hay nhận chuyển quyền SDĐ từ các chủ thể khác. Thậm chí, nhiều trƣờng hợp cụ thể, phụ thuộc vào mục đích, tính chất của việc SDĐ, Nhà nƣớc ấn định luôn phƣơng thức trao quyền SDĐ cụ thể mà chủ thể SDĐ không có quyền lựa chọn phƣơng thức khác. Và phƣơng thức Nhà nƣớc trao quyền sử dụng đất để thực hiện các DAĐT xây dựng NƠTM là một trong những biểu hiện của vấn đề nêu trên.

Theo đó, pháp luật đất đai hiện hành quy định, đối với các DAĐT xây dựng NƠTM nhằm mục đích để bán hoặc kết hợp bán với cho thuê thì chỉ có thể SDĐ dƣới phƣơng thức Nhà nƣớc giao đất có thu tiền SDĐ để thực hiện dự án mà không thể là hình thức khác nhƣ giao đất không thu tiền SDĐ, thuê đất của Nhà nƣớc (xét ở khía cạnh quyền tiếp cận đất đai từ Nhà nƣớc để thực hiện các DAĐT). Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Việt Nam là một trong số rất ít các quốc gia trên thế giới hiện nay duy trì chế độ sở hữu toàn dân mà Nhà nƣớc là chủ sở hữu đại diện. Do vậy, phƣơng thức trao quyền quản lý và SDĐ ở Việt Nam cho các cá nhân, tổ chức trong xã hội cũng có nhiều sự khác biệt với so với các quốc gia khác.

Theo đó, có thể khẳng định rằng, phƣơng thức trao quyền SDĐ của Nhà nƣớc cho các chủ thể SDĐ để thực hiện các hoạt động đầu tƣ, kinh doanh nói chung và kinh doanh NƠTM nói riêng ở Việt Nam cũng có tính đặc thù, khác biệt mà pháp luật của đa số các quốc gia không xác lập theo hình thức này. Vì vậy, sau quá trình thu thập, nghiên cứu các tài liệu nƣớc luan an 11 ngoài nghiên cứu sinh nhận thấy rằng, không có công trình, tài liệu nào nghiên cứu trực tiếp về phƣơng thức giao đất có thu tiền SDĐ để thực hiện các DAĐT kinh doanh nhà ở. Tuy nhiên, một số tài liệu, một số cuốn sách mà nội dung cụ thể có rất nhiều thông tin, luận điểm quan trọng, tạo cơ sở tiền đề lí luận cũng nhƣ định hƣớng cho nghiên cứu sinh trong việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật về hình thức giao đất để thực hiện các DAĐT NƠTM tại Việt Nam. Qua đó, giúp cho nghiên cứu sinh có sự chọn lọc, lựa chọn những luận điểm khoa học, có giá trị ứng dụng trong việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giao đất để thực hiện các dự án NƠTM tại Việt Nam.

Cụ thể: - Cuốn sách: “Legal envinronment of business” - American of Kanas University 1988 (Môi trường pháp lý của kinh doanh - Đại học Kanas Hoa Kỳ 1988) có nhiều luận điểm quan trọng về sở hữu. Cuốn sách phân biệt tài sản thành hai loại là: BĐS và động sản. Theo tác giả của cuốn sách, “Sở hữu là mối quan hệ giữa ngƣời có quyền và những ngƣời khác, đƣợc chính phủ công nhận và làm cho có hiệu lực” (“Ownership is the relation between a person who have rights and other people, regconized and made valid by the Government” (trang 14). Đây là luận điểm tiền đề để nghiên cứu sinh nhận thức sâu sắc và lý giải căn nguyên gốc về sự chi phối của chủ sở hữu đối với đất đai; đối với tất cả các quan hệ đất đai phát sinh; thay đổi hay chấm dứt các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt với các chủ thể SDĐ khác không phải là chủ sở hữu.

Và luận điểm này cũng cho thấy rõ nét hơn bản chất của giao đất có thu tiền SDĐ từ Nhà nƣớc sang cho các CĐT kinh doanh NƠTM là một trong những biểu hiện của mối quan hệ của ngƣời có quyền (Nhà nƣớc) với tƣ cách chủ sở hữu đại diện với những ngƣời khác (tổ chức, cá nhân trong nƣớc và ngoài nƣớc) - là chủ thể SDĐ nhƣng không phải là chủ sở hữu. - Trong cuốn: “Claims to the Possession of Land” (Xác lập sở hữu với đất đai) của các tác giả PhilipWalter, Adrianavis, JamesHarris, B. Xuất bản tháng 10/2000. Cuốn sách này chủ yếu đề cập đến vấn đề Tuyên bố quyền SHĐĐ; giải thích pháp luật liên quan và các thủ tục của từng loại quyền sở hữu.

Ngoài ra, cuốn sách cũng đề cập tới lợi ích của việc tuyên bố quyền SHĐĐ, cụ thể là việc tuyên bố quyền lợi này sẽ cung cấp thông tin cập nhật một cách thƣờng xuyên về tài sản và kiện tụng luật sƣ, quản lý tài sản, chủ nhà, ngƣời thuê nhà và khách thuê khác. Cuốn sách là một khối lƣợng kiến thức phong phú và đa dạng về các loại sở hữu đối với đất đai và các quyền đƣợc xác lập theo mỗi hình thức sở hữu. Theo đó, tác giả Philip Walter, Adrianavis, James Harris, B.Mc Guire khẳng định rằng, khi các quyền của chủ sở hữu đối với đất đai đƣợc tuyên bố và đƣợc minh bạch sẽ là cơ luan an 12 sở để phân định một cách trung thực và chính xác các quyền của chủ sở hữu đối với đất đai. Làm rõ phạm vi, giới hạn các quyền của chủ thể khác không phải là chủ sở hữu đối với đất đai trong các quan hệ kinh tế, dân sự và kiện tụng.

Liên hệ với pháp luật đất đai ở Việt Nam nói chung và phƣơng thức trao quyền SDĐ của chủ sở hữu là Nhà nƣớc cho các CĐT kinh doanh NƠTM nói riêng, nghiên cứu sinh nhận thấy rằng, giới hạn quyền lực của Nhà nƣớc khi giao đất với tƣ cách là chủ sở hữu đại diện với các chủ thể đầu tƣ kinh doanh NƠTM cần phải xác định một cách cụ thể, rõ ràng để một mặt vừa thể hiện đƣợc vai trò của chủ sở hữu và chức năng quản lý của Nhà nƣớc đối với các quan hệ đất đai nảy sinh trong đời sống xã hội, song không đồng nghĩa với việc Nhà nƣớc có quyền can thiệp sâu vào mọi giao dịch về quyền SDĐ của các chủ thể khi quyền SDĐ đó đã trao cho họ. Quyền SDĐ hợp pháp của các DN phải đảm bảo đƣợc vận hành một cách linh hoạt trong nền kinh tế thị trƣờng với quyền chủ động và tự quyết của chủ thể có tài sản là quyền SDĐ đó. - Trong “International Real Estate Briefing” (Bản chỉ dẫn về bất động sản quốc tế) với nội dung nghiên cứu thị trường Trung Quốc do Công ty Luật Jones Day của Mỹ thực hiện vào tháng 9 năm 2004: Hai vấn đề lớn đƣợc nghiên cứu là Quyền SDĐ của Trung Quốc và Đầu tƣ nƣớc ngoài về BĐS. Sau một số nội dung mang tính chất pháp lý nền tảng nhƣ quyền của Nhà nƣớc và quyền của các chủ thể SDĐ khác, xác lập và chuyển giao quyền SDĐ.

thì nội dung về đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc đi sâu làm rõ, trong khi có riêng một phần về các Dự án phát triển BĐS (Real Estate Development Projects) và Chuyển nhƣợng dự án phát triển BĐS (Transfer of Real Estate Development Projects). Nghiên cứu tài liệu này cho thấy, cách thức xác lập và trao quyền SDĐ cho các chủ thể đầu tƣ, kèm theo đó là các quyền đƣợc sử dụng, hƣởng lợi và quyền đƣợc thực hiện giao dịch mà Nhà nƣớc trao cho họ, bao gồm cả nhà đầu tƣ trong nƣớc và nhà đầu tƣ nƣớc ngoài ở Trung Quốc có nhiều nét tƣơng đồng nhƣ pháp luật đất đai ở Việt Nam. Theo đó, Nhà nƣớc cũng với vai trò chủ sở hữu quyết định phân bổ, điều chỉnh và trao quyền cho nhà đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài theo ý chí của Nhà nƣớc, đồng thời trao quyền cho ngƣời SDĐ trong quá trình sử dụng. Tài liệu là tƣ liệu quý giúp cho nghiên cứu sinh có những nhận định sâu rộng hơn về những tƣơng đồng và khác biệt trong việc thực thi quyền SHĐĐ của Nhà nƣớc ở hai quốc gia, đặc biệt là cách thức ứng xử của chủ SHĐĐ đối với nhà đầu tƣ nƣớc ngoài khi đầu tƣ vào quốc gia đó.

- Đại sứ quán Pháp tại Trung Quốc và Quỹ phát triển Pháp luật châu Âu lục địa (Fondation pour le Droit continental) đã công bố một số báo vào năm 2009 luan an 13 (số 0 - Tháng 01-3 năm 2009) về “Sở hữu tại Trung Quốc” (La propriété en Chine). Bài báo đã bàn luận khá kỹ về sở hữu và các cấp độ về sở hữu. Theo đó, ở Trung Quốc, đất đai không thuộc sở hữu tƣ nhân mà thuộc sở hữu nhà nƣớc hay tập thể (chính quyền địa phƣơng). Chủ thể công là nhà nƣớc hay chính quyền địa phƣơng chỉ có quyền SDĐ.

Chủ thể tƣ có thể là sở hữu tài sản trên đất nhƣng không là chủ sở hữu đất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tên "Luận án tiến sĩ về pháp luật giao đất cho đầu tư xây dựng nhà ở thương mại" của tác giả Lê Hồng Hạnh, dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Quang Huy và PGS. Nguyễn Thị Nga, được thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội vào năm 2020. Bài luận án này tập trung vào việc phân tích các quy định pháp luật liên quan đến việc giao đất cho đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực luật kinh tế. Tác giả không chỉ làm rõ các quy định hiện hành mà còn chỉ ra những bất cập và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về quy trình, điều kiện và các vấn đề pháp lý liên quan đến giao đất, từ đó nâng cao hiểu biết về pháp luật đầu tư xây dựng.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Luận văn thạc sĩ: Pháp luật về hợp đồng lao động và thực tiễn tại Bưu điện Móng Cái, Quảng Ninh", nơi đề cập đến các quy định pháp luật trong lĩnh vực lao động, có liên quan đến việc thực hiện các hợp đồng trong đầu tư xây dựng. Bên cạnh đó, "Luận văn thạc sĩ về pháp luật đầu tư vào khu công nghiệp và thực tiễn tại tỉnh Hà Nam" cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định đầu tư trong khu công nghiệp, một phần không thể thiếu trong bối cảnh phát triển nhà ở thương mại. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thạc sĩ về bảo hiểm xã hội tự nguyện và thực tiễn tại Bắc Giang", để thấy được mối liên hệ giữa các chính sách xã hội và đầu tư xây dựng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề pháp lý trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng.