lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, để án có kết cầu gồm 3 phần: Phần 1: Cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và KQKD trong doanh nghiệp. Phần 2: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phi va KQKD tai Cong ty TNHH Thương mại Sơn Cần Phan 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại Công ty TNHH Thương mại Sơn Cần CHUONG 1. CO SO LY LUAN VE KE TOAN DOANH THU, CHI PHi VA KQKD TRONG DOANH NGHIEP 1. Khái quát chung về doanh thu, chỉ phí và KQKD trong doanh nghiệp 1.
Khái niệm và phân loại doanh thu 1.1 Khai niém Doanh thu có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ hoạt động của DN. Trước hết doanh thu là nguồn tài chính quan trọng đề đảm bảo trang trải các khoản chỉ phí hoạt động kinh doanh, đảm bảo cho DN có thê tái sản xuất đơn giản cũng như tải sản xuất mở rộng, là nguồn để trang trải các khoản chỉ phí về tư liệu lao động đối tượng lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất kinh doanh. để trả lương, thưởng cho người lao động, trích Bảo hiểm xã hội, nộp thuế theo luật định, là nguồn đề có thể tham gia góp vốn cô phần, tham gia liên doanh liên kết đối với các đơn vị khác. Trường hợp doanh thu không thể đảm bảo các khoản chỉ phí đã bỏ ra thì DN sẽ gặp khó khăn về tài chính.
Hiện tại có nhiều quan niệm khác nhau về doanh thu như: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 14— Doanh thu va thu nhập khác Ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QD-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ tài chính thì “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của DN, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu ”. Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 định nghĩa: “Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của DN ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. Doanh thu được ghỉ nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyên nhận không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền”. Như vậy, qua các khái niệm khác nhau về doanh thu, có thể hiểu “Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế DN đã thu được hoặc sẽ thu được.
Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của DN sẽ không được coi là doanh thu. Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu”. Doanh thu đóng vai trò quan trọng, là nguồn bù đắp các khoản chi phí mà DN đã chỉ ra đồng thời làm tăng vốn chủ sở hữu. Việc hạch toán đúng doanh thu sẽ tạo điều kiện cho DN xác định đúng đắn KQKD.
Ngoài ra, dựa trên đặc điểm hàng hóa — dịch vụ cung ứng, khi tìm hiểu về đoanh thu cần quan tâm tới các khái niệm như sau: - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh như bán sản phẩm, hàng hoá; cung cấp dịch vụ cho khách hàng.bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có). - Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: là khoản doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ sau khi đã trừ các khoản giảm trừ (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, doanh thu hàng bán bị trả lại, thuế GTGT của DN nộp theo phương pháp trực tiếp) trong kỳ kế toán, là căn cứ tính kết quả hoạt động kinh doanh của DN. - Các khoản giảm trừ doanh thu, gôm: Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu (đoạn 03 VAS 14). Giá trị hàng ban bi tra lai: La gia tri khéi lượng hàng ban đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán (đoạn 03 VAS 14).
Chiết khấu thương mại: Là khoản DN bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn (đoạn 03 VAS 14). - Thu nhập khác: là những khoản góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu (đoạn 03 VAS 14). Phân loại doanh thu Đề thuận tiện cho công tác quản lý và kế toán doanh thu, doanh thu có thể được phân loại theo những tiêu thức khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu của quản lý và kế toán. Một vài cách phân loại: (4) Phân loại theo hoạt động kinh doanh, doanh thu được chia thành hai loại: - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là toàn bộ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của DN trong kỳ bao gồm: doanh thu bán buôn, doanh thu bán lẻ, doanh thu gửi bán đại lý.
- Doanh thu hoạt động tài chính: Là toàn bộ doanh thu phát sinh từ hoạt động đầu tư tài chính như tiền lãi, tiền bản quyền, cỗ tức và lợi nhuận được chia. Cách phân loại này giúp nhà quản trị DN xác định được tỷ trọng của từng loại doanh thu, xác định tổng mức lưu chuyên hàng hoá theo từng loại, từ đó hoạch định được mức luân chuyên hàng hoá, xây dựng mức dự trữ hàng hóa cần thiết, tránh được tình trạng ứ đọng hoặc thiếu hàng gây ảnh hưởng không tốt cho quá trình hoạt động KD của doanh nghiệp. (b) Phân theo phương thức thanh toán tiền hàng doanh thu được chia thành doanh thu thu tiền ngay, doanh thu trả chậm, doanh thu nhận trước. Phân loại theo phương thức thanh toán giúp quản lý rõ ràng việc thu tiền từ khách hang, dé dàng theo dõi lượng doanh thu thu được từ các nguồn khác nhau và đảm bảo kiểm soát tốt hơn về tài chính của doanh nghiệp.
(c) Phân loại theo mỗi quan hệ với điểm hoà vốn doanh thu được chia thành. - Doanh thu hoà vốn: Là doanh thu của khối lượng bán ở điểm hoà vốn - Doanh thu an toàn: Phần chênh lệch của doanh thu thực hiện được với đoanh thu hoà vốn Phân loại theo mỗi quan hệ với điểm hoà vốn giúp đánh giá sự an toàn và hiệu quả của doanh thu, phân biệt giữa doanh thu từ các sản phẩm đã hoà vốn và phần chênh lệch giữa doanh thu thực hiện được và điểm hoà vốn. (4) Phân loại theo mối quan hệ với hệ thông tổ chức kinh doanh của DN, doanh thu được chia thành - Doanh thu từ bên ngoài: Là toàn bộ doanh thu củakhối lượng hàng hoá, dịch vụ bán ra thực tế của DN cho khách hàng, hay doanh thu từ các hoạt động đầu tư tài chính thu được từ bên ngoài hệ thống tổ chức kinh doanh của DN - Doanh thu nội bộ: Là doanh thu của khối lượng hàng bán trong nội bộ hay doanh thu từ các hoạt động tài chính thu được từ hệ thống tổ chức kinh đoanh của DN như các giao dịch giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty, tong công ty. Ngoài các cách phân loại trên doanh thu còn được phân loại theo nhiều tiêu thức khác.
Nhìn chung mỗi cách phân loại đều có ý nghĩa nhất định với công tác quản trị DN. Khai niệm và phân loại chỉ phí 1. Khai niém Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp ba yếu tố là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động để tạo ra các loại sản phẩm lao vụ và dịch vụ. Sự tiêu hao các yếu tố nay trong quá trình SXKD đã tạo ra các chỉ phí tương ứng, đó là các chỉ phí về tư liệu lao động, chi phi về đối tượng lao động và chỉ phí về lao động sóng.
Chỉ phí được hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các hao phí cần thiết khác mà DN đã chỉ ra trong quá trình sản xuất, biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định. Theo chuẩn mực kế toán quốc tế và theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 0I- Chuẩn mực chung “Chỉ phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chỉ ra, các khoản khẩu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu ”. Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 thì: “C7 phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghỉ nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong tương lai không phân biệt đã chỉ tiền hay chưa ”. Các cách phát biểu khác nhau nhưng đều cho thấy bản chất của chỉ phí là toàn bộ những khoản chỉ phí làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán của DN.
Chi phí gắn liền với hoạt động SXKD, được tài trợ từ vốn kinh doanh và được bù đắp từ thu nhập hoạt động SXKD. Phân loại chỉ phí Chi phi cua DN phat sinh tir nhiéu loai hoat động khác nhau. Tùy thuộc vào mục đích sử dụng thông tin, chỉ phí của DN có thể được phân loại theo các cách khác nhau: * Phân loại theo chức năng hoạt động: Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí được chia thành 2 loại: Chi phi san xuất là toàn bộ chỉ phí liên quan đến chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trong một thời kỳ nhất định. Chỉ phí sản xuất được chia thành ba khoản mục: + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là biểu hiện bằng tiền những nguyên vật liệu chủ yếu tạo thành thực thể vật chất của sản phẩm.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được hạch toán trực tiếp vào đối tượng chịu chỉ phí. + Chỉ phí nhân công trực tiếp là tiền lương chính, lương phụ, các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN và các khoản trả khác cho công nhân trực tiếp sản xuất. + Chi phí sản xuất chung là những chỉ phi dé sản xuất ra sản phẩm (không kể chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chỉ phí nhân công trực tiếp). Chỉ phí ngoài sản xuất là những chỉ phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm và quản lý chung toàn DN.