phần Mở đầu, Kết luận, Danh sách các bảng biểu, sơ đồ, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài đƣợc thiết kế thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tính hữu ích của BCTC đối với quyết định cho vay của chủ nợ Chƣơng 2: Thực trạng về tính hữu ích của thông tin trên báo cáo tài chính đối với quyết định cho vay của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm nâng cao tính hữu ích của thông tin trên BCTC doanh nghiệp đối với quyết định cho vay của các NHTM Việt Nam 123doc -4- CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH HỮU ÍCH CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH CHO VAY CỦA CHỦ NỢ Kế toán có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho rất nhiều đối tƣợng sử dụng để thực hiện các quyết định kinh tế. Dựa theo đối tƣợng phục vụ chủ yếu của mình, kế toán chia thành hai phân hệ, đó là kế toán quản trị và kế toán tài chính. BCTC là sản phẩm hoàn chỉnh của kế toán tài chính, là công cụ truyền tải thông tin kế toán về tình hình tài chính, kết quả hoạt động và các thông tin khác đến với những đối tƣợng sử dụng chủ yếu bên ngoài tổ chức. Tính hữu ích là khả năng giúp ích cho việc ra các quyết định kinh tế là đặc tính của BCTC.
Tính hữu ích đƣợc thể hiện qua nhiều góc độ, và có khá nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Trong luận văn này, tác giả trình bày các quan điểm phổ biến đang đƣợc sử dụng ở Việt Nam và trên thế giới, bao gồm quan điểm đƣợc nêu trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam do Bộ Tài Chính ban hành và quan điểm của Khuôn mẫu lý thuyết cho BCTC do Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế ban hành. Quan điểm trong Khuôn mẫu lý thuyết cho BCTC cũng là nền tảng lý thuyết mà tác giả sử dụng để đánh giá tính hữu ích của BCTC tại Việt Nam. Do phục vụ cho nhiều đối tƣợng sử dụng nhƣ nhà đầu tƣ, chủ nợ, cơ quan nhà nƣớc, nhà quản lý… BCTC sẽ có mức hữu ích khác nhau với những đối tƣợng sử dụng khác nhau.
Luận văn này chú trọng tìm hiểu về tính hữu ích của BCTC đối với quyết định cho vay của một dạng chủ nợ là các NHTM. Chƣơng này tóm tắt các nghiên cứu đã đƣợc thực hiện trƣớc đây về tính hữu ích của BCTC đối với hoạt động cho vay của các ngân hàng. Phƣơng pháp và nội dung từ các nghiên cứu trƣớc đây đƣợc sử dụng để định hƣớng cho việc nghiên cứu tìm hiểu thực trạng tính hữu ích của BCTC ở Việt Nam.1 Kế toán và vai trò thông tin kế toán 123doc -5- 1.1 Định nghĩa kế toán Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa đƣợc đƣa ra về kế toán. Theo Hiệp hội kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA), “Kế toán là một nghệ thuật ghi chép, phân loại và tổng hợp theo các phương pháp có ý nghĩa, biểu hiện bằng tiền của các giao dịch và các sự kiện có ít nhất một phần tính chất tài chính và trình bày được kết quả của chúng” Ủy ban thực hành kiểm toán quốc tế (IAPC) định nghĩa: “Kế toán là một khoa học, một kỹ thuật ghi nhận, phân loại, tập hợp và cung cấp số liệu về hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của một đơn vị kinh tế, giúp các nhà quản lý đưa ra những quyết định thích hợp” Luật kế toán của Việt Nam ban hành năm 2003 định nghĩa “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”.
Các định nghĩa đƣợc ban hành bởi các tổ chức nghề nghiệp, các bộ luật của các quốc gia tuy có nhiều điểm khác biệt, nhƣng đều nhấn mạnh đến bản chất công việc kế toán, chính là hệ thống các hoạt động nhằm cung cấp thông tin tài chính, giúp cho những ngƣời sử dụng thông tin có thể ra quyết định thích hợp.2 Vai trò của thông tin kế toán Ngay từ định nghĩa của kế toán, thông tin mà kế toán cung cấp đã đƣợc khẳng định là có vai trò làm nguồn dữ liệu, mang các thông tin về kết quả hoạt động và tình hình tài chính của tổ chức đến cho các đối tƣợng có nhu cầu sử dụng. Những thông tin này là để phục vụ cho hoạt động ra quyết định của các đối tƣợng có liên quan. Nếu dựa trên các đối tƣợng phục vụ thông tin, kế toán đƣợc chia làm 2 phân hệ là kế toán quản trị và kế toán tài chính. 123doc -6- Kế toán quản trị chỉ phục vụ thông tin cho đối tƣợng bên trong tổ chức; trong khi đó, kế toán tài chính phục vụ thông tin cho tất cả các đối tƣợng có nhu cầu thông tin về tổ chức, mà chủ yếu là đối tƣợng bên ngoài.
Kế toán quản trị cung cấp thông tin cho các nhà quản trị thông qua báo cáo kế toán quản trị. Đối với kế toán tài chính, BCTC lại là phƣơng tiện để họ cung cấp thông tin kế toán cho các đối tƣợng sử dụng. Những tổ chức tạo lập và cung cấp BCTC rất đa dạng, bao gồm các doanh nghiệp, các tổ chức chính phủ, các tổ chức phi chính phủ…Trong phạm vi của đề tài, tác giả chỉ giới hạn trong các BCTC của các doanh nghiệp tại Việt Nam. Chính vì vậy, thuật ngữ “doanh nghiệp” sẽ đƣợc sử dụng khi đề cập đến tổ chức tạo lập và cung cấp BCTC.
Các quy định về lập các BCTC đề cập trong nội dung giới thiệu về các BCTC dƣới đây sẽ tuân thủ theo Luật kế toán Việt Nam, Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và các văn bản hƣớng dẫn ban hành kèm theo.2 Các BCTC và vai trò của BCTC 1.1 Giới thiệu về các BCTC BCTC là sản phẩm của kế toán tài chính, tổng hợp và phản ánh một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản và nguồn vốn của một doanh nghiệp tại một thời điểm; tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh; tình hình và kết quả lƣu chuyển tiền tệ của một doanh nghiệp trong một kỳ kế toán nhất định. Hệ thống BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam gồm: 1. Bảng cân đối kế toán; 2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; 3.
Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ; 4. Bản thuyết minh BCTC; 1.1 Bảng cân đối kế toán 123doc -7- Bảng cân đối kế toán là BCTC tổng hợp, phản ánh tổng quát và toàn diện tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại thời điểm lập BCTC Bảng cân đối kế toán cung cấp thông tin về tổng giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp đƣợc phân loại theo cơ cấu tài sản và tổng giá trị nguồn hình thành nguồn tài sản phân loại theo cơ cấu nguồn vốn (nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo) Các thông tin phải trình bày trong Bảng cân đối kế toán đƣợc quy định bởi VAS 21 (xem nội dung chi tiết trong Phụ lục số 1).2 Báo cáo kết quả kinh doanh Báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm kết quả kinh doanh và kết quả khác Các thông tin phải trình bày trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng đƣợc quy định bởi VAS 21 (xem nội dung chi tiết trong phụ lục số 1).3 Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin giúp ngƣời sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động. Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp vì nó loại trừ đƣợc các ảnh hƣởng của việc sử dụng các phƣơng pháp kế toán khác nhau cho cùng giao dịch và hiện tƣợng. Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ dùng để xem xét và dự đoán về khả năng về số lƣợng, thời gian và độ tin cậy của các luồng tiền trong tƣơng lai; dùng để kiểm tra lại các đánh giá, dự đoán trƣớc đây về các luồng tiền; kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lƣợng lƣu chuyển tiền thuần và những tác động của thay đổi giá cả.
123doc -8- Theo VAS 24, doanh nghiệp phải trình bày các luồng tiền trong kỳ trên Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ theo 3 loại hoạt động: Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền có liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp, nó cung cấp thông tin cơ bản để đánh giá khả năng tạo ra tiền của doanh nghiệp từ các hoạt động kinh doanh để trang trải các khoản nợ, duy trì các hoạt động, trả cổ tức và tiến hành các hoạt động đầu tƣ mà không cần đến các nguồn tài trợ từ bên ngoài. Luồng tiền từ hoạt động đầu tƣ là luồng tiền có liên quan đến việc mua sắm, xây dựng, nhƣợng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tƣ khác không thuộc các khoản tƣơng đƣơng tiền. Luồng tiền từ hoạt động tài chính là luồng tiền có liên quan đến việc thay đổi về quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu cụ thể của Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ đƣợc trình bày trong phụ lục số 1.4 Thuyết minh BCTC Thuyết minh BCTC là một bộ phận hợp thành không thể tách rời của BCTC doanh nghiệp, dùng để mô tả mang tính tƣờng thuật hoặc phân tích chi tiết các thông tin số liệu đã đƣợc trình bày trong Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ cũng nhƣ các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụ thể.
Bản thuyết minh BCTC cũng có thể trình bày các thông tin khác nếu doanh nghiệp xét thấy cần thiết cho việc trình bày trung thực, hợp lý BCTC.