Chương 1: Co sở lý luận về phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích hoạt động kinh doanh của CTCP Lọc hoá dầu Bình Sơn Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại CTCP Lọc hoá dầu Bình Sơn. CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHAN TÍCH HOAT DONG KINH DOANH CUA DOANH NGHIEP 1. Khái niệm, ý nghĩa và vai trò của phân tích hiệu qua hoạt động kinh doanh 1.
Khái niệm về hiệu quả Hiệu quả có thể xét ở nghĩa rộng đối với tất cả mọi sự vật, sự việc. Ở tầng nghĩa rộng, có thé hiểu hiệu quả là khả năng đạt được mục tiêu hoặc kết quả mong muốn của một hành động hoặc quy trình. Nó liên quan đến kết quả của hành động hoặc quy trình, xem xét kết quả đó có đạt mục tiêu đã đề ra hay không. Như vậy, hiệu quả phản ánh tỷ lệ giữa kết quả đạt được so với mục tiêu ban đầu.
Trong nghiên cứu này, xem xét khái niệm hiệu quả trong phạm trù kinh tế, hay nói cách khác là hiệu quả kinh tế. Nói về hiệu quả kinh tế có rất nhiều những quan điểm khác nhau. Theo quan điểm của Adam Smith, nhà kinh tế học người Anh: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi ty số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết qua đó.
Theo tác giả Manfred Kuhn: “Tinh hiệu quả được xác định bang cách lấy kết quả tinh theo don vi giá trị chia cho chỉ phí kinh doanh ”.2 Tóm lại, bản chất của hiệu quả chính là kết quả của lao động xã hội, được xác định bằng cách so sánh lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí lao động xã hội. Hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguôn lực đê đạt được mục tiêu các định. 2 Nguyễn Lê Hà Thương (2023), “Ly thuyết về hiệu quả kinh doanh và những nhân to ảnh hưởng”, báo Tri thức cộng dong. Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh Theo như đã nhắc tới ở trên, tác giả Manfred Kuhn đã đưa ra khái niệm mang tính điển hình cho quan điểm này va đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dung và tinh hiệu quả kinh tế của các quá trình sản xuất kinh doanh.
Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh của trường Đại học Kinh tế Quốc dân tập I thì “Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chỉ phí bỏ ra. ” Kết quả kinh doanh được xem là một đại lượng vật chất được tạo ra trong quá trình hoạt động kinh doanh. Bởi vậy, có kết quả chưa chắc đã có hiệu quả. Hiệu quả kinh doanh có thể xem xét trên nhiều mặt: về không gian, thời gian, định tính và định lượng.
Có cách hiểu cho rằng hiệu quả kinh doanh là sự tăng trưởng kinh tế phản ánh nhịp độ tăng của các chỉ tiêu kinh tế nhưng cách hiểu này chỉ đúng trên mức độ biến động của thời gian; Hiệu quả kinh doanh là mức độ tiết kiệm chi phí và mức tăng kết quả hoặc cũng có thể hiểu hiệu quả hoạt động là thước do chất lượng phản ánh thực trang sản xuất, t6 chức quản lý kinh doanh của doanh nghiệp mà còn là van đề sống còn của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Tóm lại, hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị, vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đã đề ra. Hiệu quả kinh doanh = Kết quả kinh doanh / Chi phi kinh doanh° Hiệu quả kinh doanh bao gồm hai mặt là hiệu quả kinh tế (phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp hoặc của xã hội dé đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất) và hiệu qua xã hội (phan anh những lợi ích về mặt xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh), trong đó hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định. Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh không những là công cụ dé phát hiện những khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh mà còn là công cụ dé cai tiến quản lý trong kinh doanh, bat kỳ hoạt động kinh doanh trong các điều kiện khác nhau như thế nào đi nữa cũng còn những khả năng tiềm tàng chưa được phát hiện, chỉ có thông qua phân tích, doanh nghiệp mới có thé phát hiện và khai thác được chúng dé mang lại hiệu quả cao hơn.
Thông qua phân tích mới thấy rõ nguyên nhân cùng nguồn gốc các vấn đề phát sinh và từ đó có những giải pháp thích hợp dé cải tiến hoạt động quan lý có hiệu quả hơn. Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh. Để hoạt động kinh doanh đạt được kết quả mong muốn, doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích hoạt động kinh doanh. Dựa trên các tài liệu có được, thông qua phân tích, doanh nghiệp có thé dự đoán các điều kiện kinh doanh trong thời gian tới dé dé ra các chiến lược kinh doanh phù hợp.
Ngoài việc phân tích các điều kiện bên trong doanh nghiệp như tài chính, lao động, vật tu., doanh nghiệp cũng cần phải quan tâm phân tích các điều kiện tác động bên ngoài như khách hàng, thị trường, đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp sẽ dự đoán các rủi ro trong kinh doanh có thể xảy ra và có phương án phòng ngừa trước khi chúng xảy ra. Tóm lại, với các ý nghĩa trên, phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ cần thiết cho các cấp độ quản lý khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tượng bên ngoài là những người không trực tiếp điều hành doanh nghiệp, khi họ c6 mối quan hệ về quyền lợi với doanh nghiệp!.Phạm Văn Dược, TS. Trần Phước (2014), Giáo trình Phân tích HĐKD 1.
Vai trò của phân tích hoạt động kinh doanh Thứ nhất, phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm năng trong hoạt động kinh doanh, mà còn là công cụ cải tiền quy chế quản lý trong kinh doanh. Thứ hai, thông qua phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp mới thấy rõ nguyên nhân cùng nguồn gốc của các vấn đề phát sinh và có giải pháp cụ thé dé cải tiến quản lý cho doanh nghiệp. Bat kỳ hoạt động kinh doanh trong các điều kiện hoạt động khác nhau như thế nào đi nữa, cũng còn những tiềm ẩn, khả năng tiềm tàng chưa được phát hiện. Chi thông qua phân tích doanh nghiệp mới có thể phát hiện được, và khai thác chúng dé mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
Thứ ba, một khi doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp thì đó chính là cơ sở dé các doanh nghiệp xác định đúng đắn mục tiêu cùng các chiến lược kinh doanh có hiệu quả. Thứ tư, phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng để các nhà quản trị ra các quyết định kinh doanh phù hợp với điều kiện và nhu cầu riêng của doanh nghiệp mình. Đây là công cụ quan trọng trong những chức năng quản trị có hiệu quả ở doanh nghiệp. Thứ năm, phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh còn giúp cho doanh nghiệp phòng ngừa được những rủi ro trong tương lai.
Qua quá trình phân tích về tài chính công ty, các nhà quản trị có thể dự đoán được khả năng tăng trưởng hoặc sự suy giảm trong những năm tới để đưa ra chiến lược kinh doanh phù hợp. Nội dung phân tích hoạt động kinh doanh 1. Phân tích môi trường kinh doanh Phân tích môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, nghiên cứu sử dụng mô hình PESTEL. Phân tích PESTEL là một khung chiến lược thường được sử dụng dé đánh giá môi trường kinh doanh mà một công ty hoạt động.
Theo truyền thống, khuôn khổ này được gọi là phân tích PEST, là từ viết tắt của Chính trị, Kinh tế, Xã hội và Công nghệ; trong lịch sử gan đây hơn, khuôn khô đã được mở rộng dé bao gồm ca các yêu tổ Môi trường và Pháp lý. Khung nay được các nhóm quản lý và hội đồng quản trị sử dụng trong các quy trình lập kế hoạch chiến lược và lập kế hoạch quản lý rủi ro doanh nghiệp của họ. Phân tích PESTEL cũng là một công cụ rất phổ biến trong số các chuyên gia tư vấn quản lý để giúp khách hàng của họ phát triển các sáng kiến thị trường và sản phẩm đổi mới, cũng như trong cộng đồng phân tích tài chính, nơi các yếu tố có thé ảnh hưởng đến các giả định mô hình và quyết định tài chính. PESTEL được hình thành dựa trên 6 khía cạnh chính, đó là : - Political (Chính tri) - Economic (Kinh té) - Socio-cultural (Xã hội - Van hóa) - Technological (Công nghệ) - Environmental (Môi trường) - Legal (Luật pháp) regulatory conditions Hình 1.
Mô hình PESTEL (Nguồn: Andrews University, 2020) e Yéu tô chính trị Chính sách của chính phủ ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế và chính phủ có trách nhiệm thực thi và tạo ra một khuôn khổ ôn định ma trong đó hoạt động kinh doanh được phép thực hiện. Một khi đã kinh doanh trên một lãnh thé hành chính, các doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ theo các yếu tô thé chế luật pháp trên lãnh thổ đó. Các yếu tố này chủ yếu dựa vào những khía cạnh sau: - Chính sách: Các chính sách của Nhà nước sẽ có ảnh hưởng lớn tới doanh nghiệp. Những chính sách này có thể tạo ra những thuận lợi nhưng đôi khi cũng là rào cản cho việc kinh doanh của doanh nghiệp.
Có thé kế đến các chính sách thương mại, chính sách phát triển ngành, phát triển kinh tế, thuế, các chính sách điều tiết cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng. - Su bình ồn: Sự bình ổn ở đây bao gồm yếu tố xung đột chính trị cũng như ngoại giao của thê chế luật pháp của một quốc gia. Một thé chế có sự ồn định 7 cao và đủ mạnh sẽ sẵn sàng đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của xã hội, từ đó đem lại lòng tin và thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Ngược lại, khi các thể chế không ổn định thì sẽ xảy ra xung đột sẽ tác động xấu tới hoạt động kinh doanh trên lãnh thé của nó cũng như việc mở rộng kinh doanh ra nước ngoài.