ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Sự cần thiết nghiên cứu Từ lâu, nông nghiệp đã trở thành một thế mạnh của đất nước. Những năm gần đây, công nghiệp, thương mại - dịch vụ, du lịch dần chiếm một tỷ trọng tương đối trong nền kinh tế. Sự phát triển mạnh mẽ đó khiến cho rất nhiều người nhầm tưởng rằng vai trò của công nghiệp đã dần thay thế nông nghiệp trong nền kinh tế bởi tốc độ tăng trưởng nhanh. Tuy nhiên, nhìn sâu vào bản chất của vấn đề, chúng ta mới thấy sản xuất nông nghiệp sẽ mãi đóng vai trò quan trọng, tiên phong để thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển, nhất là trong bối cảnh kinh tế biến động như hiện tại.
Vai trò, vị trí của nông thôn càng trở nên quan trọng sự nghiệp phát triển nông thôn, nông nghiệp sản xuất ra những nông sản phẩm thiết yếu cho đời sống con người mà không một ngành sản xuất nào có thể thay thế được. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng cung cấp lương thực, trái cây, thủy sản lớn nhất cả nước. Trong đó kinh tế biển là tiềm năng lớn nhất của vùng, với lợi thế 750 km bờ biển chiếm 23% chiều dài bờ biển cả nước và có đến 7/13 tỉnh thành giáp biển.000 𝑘𝑚2 vùng biển là vùng đặc quyền kinh tế, với đường bờ biển dài khí hậu thuận lợi cho việc phát triển thủy sản và đã trở thành nguồn cung ứng thủy sản chủ lực cả nước. Tỉnh Sóc Trăng trong tổng số 278.154 ha đất nông nghiệp thì có 144.156 ha sử dụng cho canh tác lúa, 21.401 ha cây hàng năm khác và 40.191 ha dùng trồng cây lâu năm và cây ăn trái.
Riêng đất nuôi trồng thuỷ sản 54.373 ha, đất làm muối và đất nông nghiệp khác chiếm 0,97%. Nằm ở cửa Nam sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh 231km, cách Cần Thơ 62km; nằm trên tuyến Quốc lộ 1A nối liền các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau. Quốc lộ 60 nối Sóc Trăng với các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre và Tiền Giang. Ngoài ra, do thuộc Đồng bằng sông Cửu Long nên Tỉnh Sóc Trăng có đường bờ biển dài 72 km và hệ thống sông ngòi dài hơn 3000 km.
Bên cạnh đó Sóc Trăng còn có 03 cửa sông lớn: Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh đổ ra Biển Đông rất thuận lợi trong giao thông, vận chuyển hàng hóa giữa các vùng. Sóc Trăng sẽ là vùng cung cấp nguyên liệu vững chắc của ngành nghề chế biến thủy sản xuất khẩu trong vùng và cả nước. Vì những lợi thế đó nên Sóc Trăng đã chọn thủy sản là lĩnh vực kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của địa phương. Năm 2019, diện tích nuôi trồng thủy sản ở Sóc Trăng đã đạt trên 78.
Trong đó, nuôi tôm nước lợ hơn 57.000 ha chiếm gần 74%; tổng sản lượng 1 nuôi và khai thác tôm nước lợ đạt trên 150.000 tấn chiếm tỉ lệ 71%; xuất khẩu thủy sản đạt 630 triệu USD chiếm 76% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Qua đó, không chỉ phát huy được tiềm năng kinh tế và nâng cao hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích đất canh tác mà còn giải quyết được vấn đề việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Ở thị xã Vĩnh Châu, các hộ nông dân đã sử dụng triệt để lợi thế của các tuyến sông, rạch, vùng đất ngập mặn để nuôi tôm và vươn lên thành vựa tôm của tỉnh. Hiệu quả kinh tế của nghề nuôi tôm cao gấp nhiều lần so với nghề trồng lúa, nhờ vậy mà mức sống của người dân trên địa bàn thị xã Vĩnh Châu cũng được cải thiện nhờ nuôi tôm.
Bên cạnh những thuận lợi đó, các nông hộ còn gặp không ít khó khăn trong quá trình nuôi tôm. Tình trạng diện tích nuôi tôm trên đầu người giảm do quy mô dân số lao động còn quá lớn, áp lực nhân khẩu đè nặng lên quỹ đất tài nguyên vốn đã có hạn, tình trạng dịch bệnh trên tôm thẻ ngày càng phức tạp, với nhiều chủng loại bệnh khác nhau. Việc áp dụng mô hình nuôi tôm theo hướng thâm canh, không còn đem lại hiệu quả trong sản xuất, đòi hỏi người dân phải ứng dụng một mô hình nuôi tôm khác phù hợp hơn. Qua đánh giá của Sở NN&PTNT, các mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh ba giai đoạn cho tỷ lệ thành công cao và đạt trên 80 - 90% diện tích nuôi có lãi.
Đây là các mô hình nuôi tôm tiên tiến nhất được đầu tư bài bản và quản lý nghiêm ngặt; khu nuôi được thiết kế hệ thống ao lắng lọc, ao chứa và xử lý nước thải, chất thải, có lắp đặt hệ thống biogas. Hệ thống ao ương, ao nuôi được lắp quạt và oxy đáy; ao ương, ao nuôi, ao lắng được trải bạt hoàn toàn và được che lưới ở phía trên để giảm sự phát triển của tảo; tôm được ương, sau đó chuyển tôm xuống ao nuôi và sang thưa ra nhiều giai đoạn. Trong quá trình nuôi, các yếu tố môi trường được kiểm soát chặt chẽ, năng suất từ 20 - 25 tấn/ha; lợi nhuận từ 700 - 900 triệu đồng/ha/năm, cá biệt có mô hình lợi nhuận từ 1 - 2 tỷ đồng. Từ năm 2011 trở lại đây, nhiều hộ dân nuôi tôm ở Sóc Trăng đã phải "Treo" ao vì dịch bệnh tràn lan, nợ nần chồng chất.
Riêng năm 2015, toàn tỉnh có gần 46.000 ha thả nuôi tôm nước lợ, với hơn sáu tỷ con giống. Ðây được xem là năm khó khăn nhất đối với nghề nuôi tôm nước lợ ở tỉnh, khi tổng diện tích nuôi trong tỉnh bị thiệt hại 28%, cục bộ một số vùng nuôi thiệt hại hơn 50% như ở thị xã Vĩnh Châu, huyện Mỹ Xuyên., trước tình trạng một bộ phận người nuôi tôm không còn mặn mà với con tôm, vụ nuôi năm 2016, ngành nông nghiệp địa phương cùng bà con nông dân đã tổ chức rút kinh nghiệm các vụ nuôi trước. Qua những vụ nuôi trước, ngành nông nghiệp đã đúc kết được một số cách làm hay của nông dân như: Quản lý tốt ao nuôi, sử dụng ao lắng để xử lý nước, thả cá rô phi làm sạch tạp chất, hạn chế sử dụng hóa chất bằng cách sử dụng vi sinh tạo tảo xử lý môi trường nước; phổ biến rộng rãi những kinh nghiệm và ứng 2 dụng khoa học công nghệ mới để hỗ trợ người nuôi tôm theo hướng thân thiện với môi trường, nhất là nuôi tôm bằng công nghệ sinh học. Trong đó, mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh ba giai đoạn được coi là tiến bộ khoa học giúp nông dân xử lý tốt môi trường ao nuôi, phòng trừ dịch bệnh cho tôm.
Khuyến cáo người nuôi tôm theo dõi chặt diễn biến thời tiết để chọn thời điểm thả giống phù hợp. Qua tìm hiểu tình hình sản xuất của nông hộ hiện nay và so sánh hiệu quả kinh tế của các mô hình đem lại, những điểm mạnh và điểm yếu của từng mô hình qua đó khắc phục những điểm yếu, phát huy những điểm mạnh. Nhận thấy được tầm quan trong của vấn đề cũng như hiệu quả mà mô hình đem lại, nên em đã chọn đề tài “Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh ba giai đoạn tại xã Vĩnh Hải thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (2018-2021)” làm luận văn tốt nghiệp.2 Căn cứ khoa học thực tiễn Ngành nuôi trồng thủy sản gắn liền với cuộc sống của nhiều người dân thị xã Vĩnh Châu từ rất lâu. Bên cạnh đó, với điều kiện tự nhiên thuận lợi như: Có tiềm năng về đất đai và hệ thống sông ngòi dày đặc rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản.
Vì vậy cần được quan tâm và đầu tư đúng mức để thị xã Vĩnh Châu được phát triển bền vững theo hướng đa dạng hóa sản xuất. Những năm gần đây, Nhà nước có chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển nông nghiệp - nông thôn theo hướng chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp từ đất trồng lúa sang nuôi tôm, gắn sản xuất nguyên liệu với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ. Đồng thời phát triển nông thôn tạo công ăn, việc làm và tăng thu nhập cho người dân, từ đó tăng nhu cầu hàng hóa công nghiệp. Tuy nhiên, trong thời gian qua mặc dù Đảng và nhà nước đã đổi mới cơ chế nhưng nông hộ nuôi tôm đa phần là làm theo kinh nghiệm, theo tập quán sản xuất.
Thêm vào đó là sản xuất tôm thẻ chân trắng chịu sự tác động diễn biến phức tạp của thị trường và thời tiết dẫn đến tiềm năng chưa khai thác hết. Trong khi sản xuất tôm thẻ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao thu nhập của nông hộ và tạo nguồn nguyên liệu tại chỗ cho công nghiệp chế biến tôm phục vụ nhu cầu trong nước và cho xuất khẩu.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu chung Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh ba giai đoạn tại xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng nhằm để đánh giá hiệu quả tài chính của mô hình. Từ đó, đưa ra một số biện pháp để 3 nông hộ tham khảo và có thể giải quyết các vấn đề tồn động, giúp mở rộng mô hình và phát triển bền vững.2 Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu chung nói trên, trong đề tài này lần lượt giải quyết các mục tiêu cụ thể sau: - Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng sản xuất tôm tại địa bàn xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. - Mục tiêu 2: Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh ba giai đoạn tại địa bàn xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Mục tiêu 3: Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh ba giai đoạn. - Mục tiêu 4: Đề xuất một số giải pháp giúp nông hộ nâng cao hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh ba giai đoạn.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU - Thực trạng áp dụng mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh ba giai đoạn tại xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng như thế nào? - Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh ba giai đoạn tại xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng mang lại hiệu quả tài chính cao hay thấp? - Các nhân tố nào ảnh hưởng đến mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh ba giai đoạn tại xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng?