CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số lý luận cơ bản về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 1. Vốn kinh doanh 1. Khái niệm Hiện nay có rất nhiều quan điểm về vốn.
Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt nhằm mục đích phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh. Theo quan điểm của Mark thì: “Vốn chính là tư bản, là yếu tố đem lại thặng dư, là đầu vào của quá trình sản xuất”. Theo một đại diện tiêu biểu của học thuyết kinh tế khác là Paul A.Samuelson thì: “Đất đai và lao động ban đầu là sơ khai, còn vốn và hàng hóa là kết quả của quá trình sản xuất. Vốn bao gồm các loại hàng hóa lâu bền được sản xuất ra và phục vụ cho quá trình đầu tư vào sản xuất một cách hữu ích”.
Trong cuốn kinh tế học của David Begg cho rằng: “Vốn được phân chia theo hai hình thức vốn hiện vật và vốn tài chính”. Trong đó: - Vốn hiện vật: Là những hàng hóa dự trữ của một quá trình sản xuất để sản xuất ra một loại hàng hóa khác. - Vốn tài chính: Là tiền và tài sản trên giấy của doanh nghiệp. Như vậy, chúng ta hoàn toàn có thể thấy được rằng, vốn là một khái niệm đã được nhắc đến từ rất lâu chứ hoàn toàn không phải là một khái niệm mới.
Tuy nhiên, hình thức và cả nội dung của khái niệm này đều đã có những sự đổi khác. Một điểm chung có thể nhận thấy ở quan điểm của các nhà kinh tế về vốn đó chính là: Vốn là yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình kinh doanh, được sử dụng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ cung cấp ra thị trường. Để các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất thì doanh nghiệp phải có một lượng tiền ứng trước, lượng tiền ứng trước này gọi là vốn. Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ vật tư, tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm thu lại lợi nhuận.
Trần Ngọc Trang 7 SVTH: Hoàng Thị Cúc Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán - KIểm toán 1. Đặc điểm của vốn kinh doanh Trong nền kinh tế hàng hóa, vốn kinh doanh được biểu hiện dưới hai hình thức: hiện vật và giá trị, vốn kinh doanh có các đặc điểm sau: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt, vì nó nhằm mục đích phục vụ cho sản xuất kinh doanh (tức là nhằm mục đích tích lũy). Vốn kinh doanh phải được biểu hiện bằng một lượng giá trị tài sản cụ thể. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp phải đạt được mục tiêu sinh lời và luôn thay đổi hình thái biểu hiện, nó tồn tại dưới hình thái vật tư hoặc tài sản vô hình, nhưng kết thúc vòng tuần hoàn phải là hình thái tiền tệ.
Vốn được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng. Các nhà quản lý, nhà đầu tư không chỉ khai thác mọi tiềm năng của vốn mà phải cân nhắc, tính toán, tìm cách chọn nguồn huy động đủ đảm bảo yêu cầu sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả của vốn. Mỗi đồng vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định, không thể có đồng vốn vô chủ mà không ai quản lý. Vốn phải được bảo toàn.
Vì vậy đồng vốn phải được đầu tư vào những dự án có tính khả thi cao, tránh những dự án mạo hiểm, không an toán và doanh nghiệp cần chủ động rút ngắn thời gian thu hồi vốn. Vốn kinh doanh phải có giá trị về mặt thời gian vì vậy cần phải xét đến ảnh hưởng của thời gian khi phân tích vốn. Phân loại vốn kinh doanh Có nhiều cách phân loại vốn kinh doanh, tùy thuộc vào những góc độ khác nhau mà ta có các cách phân loại vốn kinh doanh khác nhau. Phân loại vốn kinh doanh căn cứ thời gian luân chuyển của vốn Phân loại theo tiêu thức này thì vốn kinh doanh bao gồm hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động.
Vốn cố định Là chỉ tiêu phản ánh giá trị tính bằng tiền của tài sản cố định bao gồm tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định thuê tài chính và tài sản cố định vô hình. Vốn cố định trong doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thương mại nói riêng phản ánh chính sách đầu tư vốn cho những điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ để GVHD: TS. Trần Ngọc Trang 8 SVTH: Hoàng Thị Cúc Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán - KIểm toán thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh. Kết cấu vốn cố định gồm: Giá trị của tài sản cố định, bất động sản đầu tư, đầu tư tài chính dài hạn, tài sản dài hạn khác.
Vốn cố định có đặc điểm là thời gian luân chuyển kéo dài từ môt năm trở lên. Sự luân chuyên này phụ thuộc vào chính quá trình khai thác, sử dụng và bảo quản các tài sản dài hạn cũng như các chính sách tài chính có liên quan của doanh nghiệp. Vốn lưu động Là biểu hiện giá trị bằng tiền của tài sản ngắn hạn sử dụng trong kinh doanh. Kết cấu vốn lưu động gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác.
Vốn lưu động là bộ phận tạo nên những yếu tố tài sản ngắn hạn phục vụ thường xuyên cho kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn lưu động có thời gian luân chuyển thường là rong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Sự luân chuyển này phụ thuộc vào chính quá trình khai thác, sử dụng và bảo quản các tài sản ngắn hạn cũng như các chính sách tài chính có liên quan của doanh nghiệp. Ý nghĩa của việc phân loại theo tiêu thức này: giúp doanh nghiệp thấy được tỷ trọng, cơ cấu của từng loại vốn trong tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp mình, từ đó có thể lựa chọn một cơ cấu vốn phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân loại vốn kinh doanh theo nguồn hình thành của vốn Theo cách phân loại này thì vốn kinh doanh gồm: nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Nợ phải trả: là nguồn vốn kinh doanh được huy động từ các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân ngoài chủ sở hữu mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải trả. Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn kinh doanh được đầu tư từ các chủ doanh nghiệp. Nguồn vốn chủ sở hữu doanh nghiệp hoàn toàn có quyền chủ động sử dụng vào mục đích kinh doanh, không phải thanh toán, hoàn trả như nguồn vốn nợ phải trả.
Trần Ngọc Trang 9 SVTH: Hoàng Thị Cúc Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán - KIểm toán Để đảm bảo nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh, thông thường doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn trên. Sự kết hợp này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà doanh nghiệp hoạt động cũng như quyết định của nhà quản lý doanh nghiệp trên cơ sở xem xét tình hình thực tế của doanh nghiệp. Cách phân loại này chủ yếu giúp cho việc xem xét tính hợp lý của cơ cấu huy động nguồn vốn phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Căn cứ vào thời gian huy động vốn Theo cách phân loại này thì nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.
Nguồn vốn thường xuyên: gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn. Đây là nguồn vốn mang tính ổn định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn có tính chất tạm thời, phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gồm: các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác. Việc phân loại theo tiêu thức này giúp cho người quản lý doanh nghiệp xem xét huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp, hình thành các kế hoạch về tổ chức các nguồn vốn trên cơ sở xác định quy mô vốn cần thiết, lựa chọn nguồn vốn và có quy mô thích hợp cho từng nguồn vốn nhằm tổ chức sử dụng hợp lý và có hiệu quả.
Vai trò của vốn kinh doanh đối với các doanh nghiệp Vốn có vai trò và ý nghĩa to lớn không những đối với quá trình hình thành doanh nghiệp mà còn có vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh là điều kiện tiền đề để doanh nghiệp có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Vốn kinh doanh là điều kiện duy trì sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập cho người lao động. Trần Ngọc Trang 10 SVTH: Hoàng Thị Cúc Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán - KIểm toán Vốn kinh doanh có vai trò như một đòn bẩy, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát triển, là điều kiện để tạo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Vốn kinh doanh là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của tài sản, kiểm tra, giám sát quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu tài chính. Qua đó, nhà quản trị doanh nghiệp biết được thực trạng kinh doanh, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát hiện các tồn tại, tìm ra nguyên nhân và đưa ra các biện pháp khắc phục. Ngoài ra, trong quá trình sản xuất kinh doanh, quan hệ bạn hàng, kêu gọi vốn đầu tư thì điều nhà đầu tư quan tâm nhất cũng là số vốn của doanh nghiệp và tình hình tài chính của công ty. Bên cạnh đó, vấn đề quản lý và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả cao nhất cũng rất quan trọng đối với sự phát triển của một doanh nghiệp.