CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm chung về hiệu quả kinh doanh và phân tích hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Theo tác giả Đỗ Huyền Trang cho rằng “HQKD là một phạm trù kinh tế được biểu hiện bằng hệ thống chỉ tiêu kinh tế đặc trưng thiết lập trên cơ sở so sánh tương quan giữa kết quả đầu ra với chi phí hoặc các yếu tố đầu vào, qua đó phản ánh trình độ sử dụng chi phí hoặc các yếu tố đầu vào nhằm đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội” (Đỗ Huyền Trang, 2012, tr.4 - 5) Như vậy, từ khái niệm nêu trên em cho rằng: “HQKD là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các chỉ tiêu, các nguồn lực sẵn có trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời cho thấy trình độ tổ chức và quản lý của DN nhằm mục đích hạ thấp các chi phí ở mức thấp nhất và đồng thời đem một lại lợi nhuận cao nhất cho DN cũng như cho cả xã hội” 1.
Bản chất của hiệu quả kinh doanh Thực chất của HQKD là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của một tổ chức kinh tế được xét trong một kỳ nhất định, tùy theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh. Các chỉ tiêu tài chính phản ánh HQKD là cơ sở khoa học để đánh giá trình độ của các nhà quản lý, căn cứ đưa ra quyết định trong tương lai. Song độ chính xác của thông tin từ các chỉ tiêu phân tích phụ thuộc vào nguồn số liệu, thời gian và không gian phân tích. Các chỉ tiêu HQKD có thể khái quát như sau (Đỗ Huyền Trang và cộng sự (2018), Giáo trình phân tích kinh doanh, Nhà xuất bản Lao Động – Xã Hội, Hà Nội).
- Sự so sánh giữa kết quả đầu ra với yếu tố đầu vào được tính theo công thức 1: Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh = Yếu tố đầu vào 5 - Hoặc sự so sánh giữa yếu tố đầu vào với kết quả đầu ra theo công thức 2: Yếu tố đầu vào Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra Ở công thức (1) cho thấy kết quả tính được càng lớn chứng tỏ HQKD càng cao và công thức (2) chứng minh ngược lại rằng kết quả tính được càng cao thì làm cho HQKD càng thấp. Trong phân tích HQKD, kết quả đầu ra và yếu tố đầu vào có thể đo bằng thước đo hiện vật, thước đo giá trị tùy vào mục đích của việc phân tích. Dựa vào Báo cáo kết quả kinh doanh, các chỉ tiêu kết quả đầu ra bao gồm: Tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, tổng doanh thu thuần, lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ, tổng lợi nhuận kế toán trước thuế, lợi nhuận sau thuế. Dựa vào Bảng cân đối kế toán, các chỉ tiêu yếu tố đầu vào bao gồm: Tổng tài sản bình quân, tổng nguồn vốn chủ sở hữu bình quân, tổng tài sản dài hạn bình quân, tổng tài sản ngắn hạn bình quân.
Hoặc chi phí, giá vốn hàng bán, chi phí hoạt động trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, … Công thức 1 phản ánh cứ 1 đồng chi phí đầu vào (vốn, nhân công, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị…) thì tạo ra bao nhiêu đồng kết quả đầu ra (doanh thu, lợi nhuận…) trong một kỳ kinh doanh, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ HQKD của DN càng tốt. Công thức 2 phản ánh cứ 1 đồng kết quả đầu ra như doanh thu, lợi nhuận, giá trị hàng hóa, …thì cần bao nhiêu đồng chi phí đầu vào như vốn, nguyên vật liệu, nhân công, … chỉ tiêu này càng thấp thì HQKD càng cao. Các chỉ tiêu phản ánh HQKD thường thể hiện một kỳ phân tích, do vậy số liệu dùng để phân tích các chỉ tiêu này cũng là kết quả của một kỳ phân tích. Nhưng tùy theo mục tiêu của kỳ phân tích và số liệu sẵn có, khi phân tích có thể tổng hợp các số liệu từ thông tin kế toán tài chính và kế toán quản trị để các chỉ tiêu phân tích đảm bảo chính xác và ý nghĩa.
Ý nghĩa và nhiệm vụ phân tích hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Ý nghĩa của phân tích hiệu quả kinh doanh HQKD là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh tế, vì vậy việc phân tích HQKD là hết sức cần thiết. Phân tích HQKD là việc xem xét, đối chiếu, so sánh và đánh giá HQKD của DN qua các chỉ tiêu hiệu quả giữa hiện tại và quá khứ của DN, giữa hiệu quả của DN mình với các hiệu quả của các DN khác trong cùng ngành, cùng lĩnh vực, các thông tin từ việc phân tích HQKD của DN sẽ giúp cho các đối tượng có cơ sở khoa học đưa ra các quyết định của mình. 6 Đối với các nhà quản lý DN Thông tin về HQKD sẽ giúp họ đánh giá đúng đắn về hiệu quả sử dụng các nguồn lực của DN như hiệu quả sử dụng tài sản, hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả sử dụng chi phí, đánh giá xem việc sử dụng các nguồn lực có hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả hay không.
Phân tích HQKD còn giúp các nhà quản lý đánh giá trình độ năng lực quản lý và khả năng khai thác các nguồn lực của đơn vị mình. Qua việc phân tích các chỉ tiêu HQKD, nhà quản lý sẽ thấy được các nguyên nhân và nhân tố tác động đến HQKD từ đó khắc phục những hạn chế, phát huy và khai thác tối đa các tiềm năng của các nguồn lực sản xuất để đem lại lợi ích cao nhất cho DN và qua đó sẽ làm gia tăng giá trị cho DN. Đối với các nhà đầu tư, cổ đông Thông tin về HQKD là căn cứ quan trọng để họ đưa ra quyết định đầu tư. Là những người góp vốn vào DN, lợi ích và rủi ro của các nhà đầu tư, các cổ đông gắn liền với kết quả kinh doanh của DN.
Do vậy, những thông tin về khả năng sinh lời của DN, về cổ tức, lợi nhuận được chia, về hiệu quả sử dụng vốn, về khả năng tăng trưởng và bảo toàn phần vốn của họ đã góp vào DN là những thông tin mà bất kỳ nhà đầu tư nào cũng không thể bỏ qua. Phân tích HQKD đối với nhà đầu tư là để đánh giá DN và ước đoán giá trị cổ phiếu nhằm tìm kiếm thông tin cho các quyết định đầu tư. Đối với các nhà cung cấp tín dụng, nhà cho vay Thông tin về HQKD rất cần thiết. Khi đi vay, họ phải biết chắc được khả năng hoàn trả tiền vay của DN.
Trong đó, đối với những khoản vay ngắn hạn, nhà cung cấp tín dụng ngắn hạn đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngay của DN. Nói khác đi là khả năng ứng phó của DN khi nợ vay đến hạn trả. Nhưng đối với các khoản vay dài hạn, nhà cung cấp tín dụng dài hạn phải tin chắc khả năng hoàn trả của DN mà khả năng hoàn trả vốn và trả lãi lại tùy thuộc vào khả năng sinh lời. Do vậy, khi cho vay dài hạn thì việc phân tích và đánh giá HQKD, đặc biệt là khả năng sinh lời của DN đi vay là hết sức cần thiết.
Đối với các cơ quan chức năng của Nhà nước Cơ quan thuế, kiểm toán Nhà nước, cơ quan thống kê thông qua chỉ tiêu phản ánh HQKD, hiệu quả sử dụng vốn ngân sách để kiểm tra tình hình thực hiện nghĩa vụ của DN đối với ngân sách Nhà nước, thực hiện luật kinh doanh, chế độ tài chính có đúng không, đánh giá tốc độ tăng trưởng của các DN, các ngành. Thông qua phân tích để kiến nghị với cơ quan chức năng góp phần hoàn thiện chế độ tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển. 7 Đối với người lao động Thu nhập chính của họ từ tiền lương được trả. Bên cạnh thu nhập từ tiền lương, một số lao động còn có một phần vốn góp nhất định trong DN.
Vì vậy, ngoài phần thu nhập từ tiền lương được trả họ còn có tiền lợi được chia. Cả hai khoản thu nhập nhập này phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất – kinh doanh của DN. Do vậy, phân tích HQKD sẽ giúp họ hiểu được thực chất HQKD của DN như thế nào, tiềm năng phát triển của DN từ đó xác định tâm lý ổn định và yên tâm dốc sức vào hoạt động sản xuất – kinh doanh của DN tùy theo công việc được phân công. Hiện nay, với sự khan hiếm về nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng với sự vận động đa dạng, phức tạp của cơ chế thị trường dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các DN, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của các DN cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Do vậy, để tồn tại và phát triển DN phải xác định cho mình phương thức hoạt động riêng, xây dựng các phương án kinh doanh phù hợp và có hiệu quả. Việc nâng cao HQKD là vô cùng quan trọng trong cơ chế thị trường. Nhiệm vụ của phân tích hiệu quả kinh doanh Xuất phát từ mục tiêu và nhu cầu quản trị của nhà quản lý, khi phân tích HQKD cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp nhằm cung cấp thông tin chính xác và hữu ích cho từng đối tượng để đưa ra các quyết định phù hợp. Thứ nhất, kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu kinh tế đã xây dựng.
Nhiệm vụ trước tiên của phân tích là đánh giá và kiểm tra khái quát giữa kết quả đạt được so với mục tiêu kế hoạch, dự toán, định mức đã đặt ra để khẳng định tính đúng đắn và khoa học của chỉ tiêu xây dựng, trên một số mặt chủ yếu của quá trình hoạt động kinh doanh. Ngoài quá trình đánh giá trên phân tích còn xem xét đánh giá tình hình chấp hành các quy định, các thể lệ thanh toán trên cơ sở tôn trọng pháp luật của Nhà nước ban hành và luật trong kinh doanh quốc tế. Thông qua quá trình kiểm tra, đánh giá, người ta có cơ sở, định hướng để nghiên cứu sâu hơn ở các bước sau nhằm làm rõ các vấn đề mà DN cần quan tâm. Thứ hai, xác định các nhân tố ảnh hưởng của các chỉ tiêu và tìm nguyên nhân gây nên các mức độ ảnh hưởng đó.