CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ, XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1. Lý luận chung về doanh nghiệp thương mại, doanh thu, chi phí, xác định KQKD và hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại.1 Một số khái niệm chung liên quan đến doanh nghiệp thương mại Doanh nghiệp thương mại Hiện nay có nhiều khái niệm về doanh nghiệp thương mại trong đó theo trang Wikipedia: “Công ty thương mại là các doanh nghiệp làm việc với các loại sản phẩm khác nhau được bán cho người tiêu dùng, cho mục đích kinh doanh hay của chính phủ. Hãng buôn mua một loạt các sản phẩm, duy trì cổ phiếu hay một cửa hàng và phân phát sản phẩm tới khách hàng.” Hoạt động thương mại Theo khoản 1 điều 3 luật thương mại số 60/2005/QH11 của Quốc hội hoạt động thương mại “Là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Đặc điểm của doanh nghiệp thương mại Đối tượng doanh nghiệp thương mại hướng đến là sản phẩm hàng hoá hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh. Ở đây doanh nghiệp sẽ thực hiện giá trị của hàng hóa tức là đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng mà không phải tạo ra giá trị của hàng hóa.
Vì vậy sự xem xét kỹ lưỡng giá trị hàng hóa và quản lý chặt chẽ chi phí để đưa đến người dân giá cả phù hợp nhất cho từng hàng hóa, đồng thời tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp thương mại có mối quan hệ chặt chẽ với doanh nghiệp sản xuất và sẽ là cầu nối từ doanh nghiệp sản xuất đến người tiêu dùng nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của người tiêu dùng. SVTH: Hồ Thị Phương Hoài 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Thị Hồng Quyên 1.2 Các khái niệm liên quan đến doanh thu và thu nhập Theo chuẩn mực kế toán số 14 Ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính 1.1 Khái niệm các khoản doanh thu, thu nhập Khái niệm doanh thu “Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu.
Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu.” Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: “Là giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, cung cấp lao vụ dịch vụ của doanh nghiệp.” Các khoản giảm trừ doanh thu: - Chiết khấu thương mại: “Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.” - Giảm giá hàng bán: “Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.” - Giá trị hàng bán bị trả lại: “Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.” Doanh thu tài chính: “Là giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và doanh thu hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp.” Thu nhập khác: “Là giá trị các khoản thu từ các hoạt động xảy ra không thường xuyên, ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu.” SVTH: Hồ Thị Phương Hoài 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Thị Hồng Quyên 1. Điều kiện và nguyên tắc ghi nhận doanh thu Điều kiện ghi nhận doanh thu: Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi thỏa mãn 5 điều kiện sau: - Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua. - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa. - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng. - Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Điều kiện ghi nhân doanh thu dịch vụ: Doanh thu dịch vụ được ghi nhận khi thỏa mãn 4 điều kiện sau: - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn - Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó - Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng CĐKT. - Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó.
Nguyên tắc xác định doanh thu: - Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được. - Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại. - Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất SVTH: Hồ Thị Phương Hoài 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Thị Hồng Quyên hiện hành.
Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai. - Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu. “Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu. Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm.
Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. Một số khái niệm chung liên quan đến chi phí 1.1 Một số khái niệm về chi phí Chi phí - Chi phí là: “tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.” (Chuẩn mực kế toán 01: Chuẩn mực chung) Giá vốn hàng bán: - Giá vốn hàng bán là giá trị của hàng hóa trong một thời gian cụ thể - Giá vốn hàng bán là toàn bộ chi phí để tạo ra một sản phẩm. Nó liên quan đến quá trình bán hàng bao gồm giá vốn hàng xuất kho, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp Chi phí tài chính - Chi phí tài chính là những khoản chi liên quan đến các hoạt động tài chính như đầu tư tài chính, chiết khấu thanh toán cho người mua, chi phí cho vay và đi vay vốn, liên kết, chi phí góp vốn liên doanh, chi phí giao dịch bán chứng khoán, dự phòng tổn thất đầu tư……. SVTH: Hồ Thị Phương Hoài 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Thị Hồng Quyên Chi phí quản lý doanh nghiệp - Chi phí bán hàng là những chi phí phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hóa cung cấp dịch vụ như chi phí giới thiệu, quản cáo sản phẩm, hoa hồng bán hàng, lương công nhận bán hàng, chi phí bảo hành sản phẩm, … và chi phí bằng tiền khác.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí quản lý chung của doanh nghiệp như chi phí lương nhân viên bộ phận quản lý doanh nghiệp, chi phí vật liệu văn phòng, dịch vụ mua ngoài…và chi phí bằng tiền khác. Chi phí khác - Chi phí khác là các khoản chi phí chi trả cho các hoạt động ngoài các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí thanh lý nhượng bán TSCĐ, phạt vi phạm hành chính, tiền phạt, tiền vi phạm hợp đồng.2 Nguyên tắc ghi nhận chi phí Theo điều 59 của thông tư 133/2016/TT-TBC thì chi phí được ghi nhận theo 5 nguyên tắc sau: - “Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa.” - “Việc ghi nhận chi phí ngay cả khi chưa đến kỳ hạn thanh toán nhưng có khả năng chắc chắn sẽ phát sinh nhằm đảm bảo nguyên tắc thận trọng và bảo toàn vốn. Chi phí và khoản doanh thu do nó tạo ra phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp. Tuy nhiên trong một số trường hợp, nguyên tắc phù hợp có thể xung đột với nguyên tắc thận trọng trong kế toán, thì kế toán phải căn cứ vào bản chất của giao dịch để phản ánh một cách trung thực, hợp lý”.
- “Kế toán phải theo dõi chi tiết các khoản chi phí phát sinh theo yếu tố, tiền lương, nguyên vật liệu, chi phí mua ngoài, khấu hao TSCĐ…” - “Các khoản chi phí không được coi là chi phí được trừ theo quy định của Luật thuế TNDN nhưng có đầy đủ hóa đơn chứng từ và đã hạch toán đúng theo Chế độ kế SVTH: Hồ Thị Phương Hoài 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Thị Hồng Quyên toán thì không được ghi giảm chi phí kế toán mà chỉ điều chỉnh trong quyết toán thuế TNDN để làm tăng số thuế TNDN phải nộp.” - “Các tài khoản phản ánh chi phí không có số dư, cuối kỳ kế toán phải kết chuyển tất cả các khoản chi phí phát sinh trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh.