CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm kinh doanh Kinh doanh là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của các chủ thể kinh doanh trên thị trường. (Trích nguồn: Theo Thạc sỹ Búi Đức Tuấn, Giáo trình Kế hoạch Kinh doanh, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội) Kinh doanh có các đặc điểm chủ yếu sau: - Kinh doanh phải do một chủ thể thực hiện được gọi là chủ thể kinh doanh.
Chủ thể kinh doanh gồm các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp… - Kinh doanh phải gắn với thị trường. - Kinh doanh phải gắn với sự vận động của đồng vốn. - Mục đích của kinh doanh là lợi nhuận. Khái niệm phân tích hoạt động kinh doanh -Phân tích, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành của sự vật, hiện tượng đó.
Như vậy, phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả của hoạt động kinh doanh; các nguồn tiềm năng cần khai thác ở doanh nghiệp, trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. (Trích nguồn: PGS. TS Phạm Văn Dược, Th.S Huỳnh Đức Lộng, Th.S Lê Thị Minh Tuyết, Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh. NXB Thống kê, TP Hồ Chí Minh) - Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình và kết quả của hoạt động kinh doanh cùng với sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình và kết quả đó, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế.
Khái niệm hiệu quả kinh doanh SVTH: Đậu Thị Lý 6 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. Trần Hữu Tuấn - Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng nguồn nhân tài vật lực của doanh nghiệp. Đây là một vấn đề hết sức phức tạp, có liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều mặt của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: Lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động…(Trích nguồn: PGS. TS Phạm Văn Dược, Th.S Huỳnh Đức Lộng, Th.S Lê Thị Minh Tuyết, Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh.
NXB Thống kê, TP Hồ Chí Minh) - Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được xác định bằng công thức: Hiệu quả kinh doanh = kết quả đầu ra / chi phí đầu vào. Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng chi phí đầu vào trong kỳ phân tích thì thu được bao nhiêu đồng kết quả đầu ra. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng lớn. Kết quả đầu ra được tính bằng các chỉ tiêu như: Tổng giá trị sản lượng, doanh thu, lợi nhuận,… Chi phí đầu vào được tính bằng các chỉ tiêu: Giá thành sản xuất, giá vốn hàng bán, giá thành toàn bộ, chỉ tiêu lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động,… 1.
Khái niệm doanh thu Doanh thu của doanh nghiệp thương mại bao gồm: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác. * Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán ra trong kỳ. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp được xác định bằng công thức: TR = P.Q TR = ∑PiQi Trong đó: - Qi: Khối lượng sản phẩm hàng hóa và cung cấp dịch vụ loại i mà doanh nghiệp tiêu thụ trong kỳ, tính bằng đơn vị hiện vật. - Pi: Giá bán đơn vị sản phẩm hàng hóa loại i; i = 1,n - n: Số lượng mặt hàng sản phẩm hàng hóa mà doanh nghiệp đã tiêu thụ trong kỳ.
* Doanh thu hoạt động tài chính: Là các khoản thu nhập thuộc hoạt động tài chính của doanh nghiệp gồm: hoạt động góp vốn liên doanh, hoạt động đầu tư mua, SVTH: Đậu Thị Lý 7 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. Trần Hữu Tuấn bán chứng khoán ngắn hạn và dài hạn; thu lãi tiền gửi, tiền cho vay; thu lãi bán ngoại tệ; các hoạt động đầu tư khác. * Thu nhập khác: là các khoản thu nhập từ các hoạt động ngoài hoạt động kinh doanh chính và hoạt động tài chính của doanh nghiệp như: thu về nhượng bán, thanh lý tài sản cố định; thu tiền phạt vi phạm hợp đồng; thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xoá sổ; thu tiền bảo hiểm bồi thường… (Trích nguồn: Theo Tiến sỹ Trần Văn Hòa, Thạc sỹ Phan Thị Nữ, Giáo trình Kinh tế học Vi mô, NXB Đại học huế, 2012) 1. Khái niệm chi phí Chi phí là sự hao phí thể hiện bằng tiền trong quá trình kinh doanh với mong muốn mang về một sản phẩm, dịch vụ hoàn thành hoặc một kết quả kinh doanh nhất định.
Chi phí phát sinh trong các hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ nhằm đến việc đạt được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là doanh thu và lợi nhuận. Chi phí sản xuất kinh doanh rất đa dạng phong phú bao gồm nhiều loại, mỗi loại có đặc điểm vận động, yêu cầu quản lý khác nhau. (Trích nguồn: Theo Tiến sỹ Trần Văn Hòa, Thạc sỹ Phan Thị Nữ, Giáo trình Kinh tế học Vi mô, NXB Đại học huế, 2012) Chi phí sản xuất kinh doanh theo công dụng được chia thành các khoản mục chi phí trong khâu sản xuất và ngoài khâu sản xuất như sau: * Chi phí sản xuất bao gồm: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là những chi phí của nguyên liệu, vật liệu chính do người công nhân trực tiếp sử dụng trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm. - Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm tiền lương và các khoản phụ cấp theo lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất.
- Chi phí sản xuất chung: Là chi phí phát sinh tại nơi sản xuất hay phân xưởng mà không phải là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. * Chi phí ngoài khâu sản xuất bao gồm: - Chi phí bán hàng: Là chi phí phục vụ cho quá trình lưu thông hàng hóa, gồm chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, quảng cáo… - Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những chi phí phát sinh trong quá trình quản lý, điều hành doanh nghiệp như chi phí hội nghị, tiếp khách, công tác… SVTH: Đậu Thị Lý 8 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. Trần Hữu Tuấn * Ở đây, do đây là công ty thương mại, dịch vụ cho nên chi phí chủ yếu của công ty là chi phí ngoài khâu sản xuất, không có chi phí sản xuất. Khái niệm lợi nhuận Lợi nhuận được hiểu một cách đơn giản là một khoản tiền dôi ra của một hoạt động sau khi đã trừ đi mọi chi phí cho hoạt động đó.
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp. Là chỉ tiêu chất lượng, tổng hợp phản ánh kết quả kinh tế của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. (Trích nguồn: Theo Tiến sỹ Trần Văn Hòa, Thạc sỹ Phan Thị Nữ, Giáo trình Kinh tế học Vi mô, NXB Đại học Huế, 2012) * Nguồn hình thành lợi nhuận của doanh nghiệp: Theo nguồn hình thành, lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận cấu thành sau đây: - Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh: Là lợi nhuận thu được do tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Lợi nhuận thu được từ các hoạt động tài chính: Là phần chênh lệch giữa thu và chi về hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
- Lợi nhuận thu được từ hoạt động khác: Là khoản chênh lệch giữa thu và chi từ các hoạt động khác ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.2 Vai trò của phân tích hoạt động kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Đó là một công cụ quản lý kinh tế có hiệu quả mà các doanh nghiệp đã sử dụng từ trước tới nay. Như chúng ta đã biết, mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều nằm trong thế tác động liên hoàn với nhau. Do đó, chỉ có thể tiến hành phân tích các hoạt động kinh doanh một cách toàn diện, mới có thể giúp cho các nhà doanh nghiệp đánh giá đầy đủ và sâu sắc mọi hoạt động kinh tế trong trạng thái thực của chúng.
Chính vì vậy mà việc phân tích hoạt động kinh doanh sẽ có tác dụng: - Giúp doanh nghiệp tự đánh giá mình về thế mạnh, thế yếu để củng cố, phát huy hay khắc phục, cải tiến quản lý. - Phát huy mọi tiềm năng thị trường, khai thác tối đa những nguồn lực của doanh nghiệp, nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất trong kinh doanh. - Kết quả của phân tích là cơ sở để ra các quyết định quản trị ngắn hạn và dài hạn. SVTH: Đậu Thị Lý 9 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS.
Trần Hữu Tuấn - Phân tích kinh doanh giúp dự báo, đề phòng và hạn chế những rủi ro bất định trong kinh doanh. Nội dung phân tích hoạt động kinh doanh Nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh bao gồm: - Phân tích các chỉ tiêu về kết quả kinh doanh như: sản lượng sản phẩm, doanh thu bán hàng, giá thành, lợi nhuận… - Các chỉ tiêu kết quả kinh doanh được phân tích trong mối quan hệ với các chỉ tiêu về điều kiện của quá trình sản xuất kinh doanh như: Lao động, tiền vốn, vật tư, đất đai. Cơ cấu tài sản và nguồn vốn 1. Cơ cấu tài sản Chỉ tiêu này dùng để đánh giá cơ cấu sử dụng vốn của công ty, nghĩa là cứ một trăm đồng tài sản thì trong đó sẽ có bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.
Trong đó: + Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hoá), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm: Vốn bằng tiền; Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn; Các khoản phải thu; Hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác.