CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, được biểu hiện bằng bảng hệ thống chỉ tiêu kinh tế đặc trưng thiết lập trên cơ sở so sánh tương quan giữa kết quả đầu ra với chi phí hoặc yếu tố đầu vào, qua đó phản ánh trình độ sử dụng chi phí hoặc các yếu tố đầu vào nhằm đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội (Đỗ Huyền Trang, 2016). Đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh doanh đạt được phải gắn chặt với hiệu quả của toàn xã hội.
Chỉ khi nào sự gắn kết giữa hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với hiệu quả của toàn xã hội thì hoạt động của doanh nghiệp mới thực sự được coi là hiệu quả. Phân tích hiệu quả kinh doanh cần phải kết hợp nhiều chỉ tiêu hiệu quả ở các bộ phận, các mặt của quá trình kinh doanh như chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn, nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay, chi phí… ta có thể đi phân tích từ chỉ tiêu tổng thể đến chỉ tiêu chi tiết, từ đó khái quát hóa đưa ra các thông tin hữu ích là cơ sở đưa ra các quyết định phục vụ quá trình kinh doanh. Bản chất của hiệu quả kinh doanh Khái niệm về hiệu quả kinh doanh đã cho thấy bản chất của hiệu quả kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng và trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Mọi hoạt động của tổ chức đều mong muốn đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả phương diện kinh tế, xã hội và môi trường.
Thực chất của hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của một tổ chức kinh tế được xét trong một kỳ nhất định, tùy theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh. Các chỉ tiêu tài chính phản ánh hiệu quả kinh doanh là cơ sở khoa học để đánh giá trình độ của các nhà quản lý, căn cứ đưa ra quyết định trong tương lai. Song độ chính xác của thông tin từ các chỉ tiêu phân tích phụ thuộc vào nguồn số liệu, thời gian và không gian phân tích. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh có thể khái quát như sau (Đỗ Huyền Trang, 2016): - So sánh giữa kết quả đầu ra với yếu tố đầu vào được tính theo : (1) 5 Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh= Yếu tố đầu vào Công thức 1 phản ánh cứ 1 đồng chi phí đầu vào (vốn, nhân công, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị…) thì tạo ra bao nhiêu đồng kết quả đầu ra (doanh thu, lợi nhuận…) trong một kỳ kinh doanh, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt.
- Hoặc so sánh giữa yếu tố đầu vào so với kết quả đầu ra: (2) Yếu tố đầu vào Hiệu quả kinh doanh= Kết quả đầu ra Công thức 2 phản ánh cứ 1 đồng kết quả đầu ra như doanh thu, lợi nhuận, giá trị hàng hóa,…thì cần bao nhiêu đồng chi phí đầu vào như vốn, nguyên vật liệu, nhân công,…chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả kinh doanh càng cao. → Ở công thức (1) kết quả tính được càng lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại công thức (2) kết quả tính càng lớn thì chứng tỏ hiệu quả kinh doanh càng thấp. Kết quả đầu ra, yếu tố đầu vào có thể đo bằng thước đo hiện vật, thước đo giá trị tùy vào mục đích của việc phân tích. Dựa vào Báo cáo kết quả kinh doanh, các chỉ tiêu kết quả đầu ra bao gồm: Tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, tổng doanh thu thuần, lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ,.
Dựa vào Bảng cân đối kế toán, các chỉ tiêu yếu tố đầu vào bao gồm: Tổng tài sản bình quân, tổng nguồn vốn chủ sở hữu bình quân, tổng tài sản dài hạn bình quân, tổng tài sản ngắn hạn bình quân. Hoặc chi phí, giá vốn hàng bán, chi phí hoạt động trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,… Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh thường thể hiện một kỳ phân tích, do vậy số liệu dùng để phân tích các chỉ tiêu này cũng là kết quả của một kỳ phân tích. Nhưng cũng tùy theo mục tiêu của kỳ phân tích và số liệu sẵn có để các chỉ tiêu phân tích đảm bảo chính xác và ý nghĩa. Phân biệt kết quả và hiệu quả kinh doanh Kết quả là những thành quả doanh nghiệp đạt được trong quá trình hoạt động của mình, bao gồm: 6 + Kết quả trung gian như: khối lượng sản phẩm sản xuất, giá trị sản xuất, khối lượng tiêu thụ, doanh thu tiêu thụ + Kết quả cuối cùng như: lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế,… Hiệu quả là chỉ tiêu phản ánh kết quả thu được trong mối liên hệ với nguồn lực đã sử dụng (tài sản, nguồn vốn, lao động, chi phí,…): Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh = Nguồn lực đầu vào Hoặc: Nguồn lực đầu vào Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra Các yếu tố đầu vào như: lao động, vốn, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu,.
Kết quả đầu ra sau một quá trình hoạt động kinh doanh là giá trong tổng sản lượng, doanh thu bán hàng, lợi nhuận,. Khái quát chung về phân tích hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm về phân tích hiệu quả kinh doanh Phân tích hiệu quả kinh doanh là quá trình nghiên cứu, đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần khai thác, trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp (Trịnh Văn Sơn, 2005). Mục đích phân tích hiệu quả kinh doanh Mục đích của việc phân tích hiệu quả kinh doanh là nhằm đánh giá chính xác hiệu quả, khả năng sinh lời và lượng hóa những yếu tố tác động (như quá trình cung cấp, tiêu thụ và mua bán hàng hóa, tình hình sử dụng các nguồn lực, những yếu tố nội tại của doanh nghiệp) đến kết quả kinh doanh.
Mục đích cuối cùng của việc phân tích hiệu quả kinh doanh là đúc kết các đối tượng phân tích thành quy luật để nhận thức thực tại và nhắm đến tương lai cho tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Tầm quan trọng của việc phân tích hiệu quả kinh doanh - Phân tích hiệu quả kinh doanh là công cụ phát hiện những khả năng tiềm tàng trong hoạt động của doanh nghiệp và là công cụ để cải tiến cơ chế quản lý trong kinh 7 doanh. Phân tích hiệu quả kinh doanh là cơ sở quan trọng để ra các quyết định kinh doanh. - Phân tích hiệu quả kinh doanh là công cụ quan trọng trong những chức năng quản lý có hiệu quả ở doanh nghiệp.
- Phân tích hiệu quả kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi ro. - Thông qua phân tích hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp có thể nâng cao quá trình nhận thức kinh doanh, từ đó tăng thêm sức cạnh tranh của mình trên thị trường và xây dựng một cơ chế kinh doanh hoàn thiện hơn để phù hợp với môi trường kinh doanh. Tài liệu dùng để phân tích hiệu quả kinh doanh 1. Báo cáo tài chính Thứ nhất, Bảng cân đối kế toán là Báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.
Số liệu trên Bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản và cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài sản đó. Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp (Trần Thị Hòa, 2014). ❖ Lợi ích của việc phân tích Bảng cân đối kế toán: - Số liệu phần tài sản cho phép đánh giá một cách tổng quát quy mô và kết cấu tài sản của doanh nghiệp. Số liệu nguồn vốn phản ánh các nguồn tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp.
- Thấy được sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp: tài sản lưu động, tài sản cố định. - Khả năng thanh toán của doanh nghiệp qua các khoản phải thu và các khoản phải trả. - Cho biết cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp. ❖ Hạn chế của Bảng cân đối kế toán: - Số liệu Bảng cân đối kế toán phản ánh mang tính thời điểm nên không phản ánh đầy đủ sự biến động của các đối tượng phân tích.
- Số liệu Bảng cân đối kế toán phản ánh là số liệu tổng hợp nên không chỉ ra được bức tranh cụ thể về tình hình tài chính của doanh nghiệp. 8 - Số liệu trên Bảng cân đối kế toán được phản ánh theo giá phí, do đó trong trường hợp có biến động về giá (lạm phát, giá trị doanh nghiệp giảm) các số liệu sẽ không còn đánh giá được chính xác thực trạng tài chính. - Số liệu của Bảng cân đối kế toán chịu ảnh hưởng bởi các phương pháp kế toán nên sẽ ảnh hưởng đến kết quả phân tích nếu như trong kỳ có sự thay đổi phương pháp kế toán. - Số liệu bên nguồn vốn của Bảng cân đối kế toán có tính chất chi phí của vốn do đó cơ cấu nguồn vốn sẽ ảnh hưởng đến rủi ro của doanh nghiệp.
Thứ hai, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp về tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ (quý, năm) theo các loại hoạt động, tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp với Nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác. Ý nghĩa của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Trần Thị Hòa, 2014): - Đánh giá hiệu quả kinh doanh và công tác quản lý hoạt động khinh doanh của doanh nghiệp. - Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu, chi phí, lợi nhuận. - Đánh giá xu hướng và dự báo.
- Đánh giá hiệu quả, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. - Đánh giá tình hình thanh toán của doanh nghiệp. Thứ ba, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh các biến động luồng tiền (tiền và các khoản tương đương tiền) của doanh nghiệp.